Phù Nam là một đế quốc mang màu sắc
thần quyền, tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế
kỷ VII, có nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ. Trong thời gian
Phù Nam tồn tại, vùng Óc Eo (thuộc Thoại Sơn ngày nay) là một hải cảng sầm uất
và đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, sự diệt vong của vương quốc nầy đến nay
vẫn còn là bí ẩn!
Nằm
trên một gò cao thuộc thị trấn Óc Eo, chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật Bốn Tay, không chỉ là một
trong những địa điểm hành hương nổi tiếng, mà còn được xem
là “bảo tàng” văn hóa Óc Eo đầu tiên của tỉnh An Giang. Năm 1913, người
dân địa phương phát hiện một bức tượng bốn tay làm bằng đá dưới chân núi Ba
Thê. Trước đó, họ cũng tìm thấy hai tấm bia đá lớn, có khắc nhiều chữ cổ. Họ đã
mang tượng đến thờ tại chùa Linh Sơn và gọi là tượng Phật bốn tay, đồng thời gắn
hai bia đá ở hai bên tượng.
Theo các nhà nghiên cứu, những cổ vật
nầy có niên đại khoảng từ thế kỷ II đến thế kỷ VI. Chữ trên bia
đá có thể là chữ của người Phù Nam xưa. Hiện hai bia đá vẫn còn
nguyên vẹn nhưng chữ trên bia đã mờ. Pho
tượng mà nhân dân gọi là tượng Phật thực chất là tượng thần Vishnu của Ấn Độ
giáo, có bảy đầu rắn Naga hợp thành một cái tán che trên đầu tượng. Pho tượng
ban đầu có tư thế đứng, mang màu sắc nguyên thủy của đá cổ. Sau khi thờ phượng,
người dân đã sửa chữa thành tượng ngồi kiết già và sơn màu lên đá, nên làm mất
đi không ít giá trị nghệ thuật.
Di chỉ khảo cổ Gò Cây Thị (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Thập niên 1940, nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret đã khai quật vùng Ba Thê - Óc Eo. Đợt khai quật khảo cổ học nầy đã phát hiện nền móng của các công trình kiến trúc không có mái ngói, nhiều hạt cườm, mảnh vàng, đồ trang sức… được chế tác tinh xảo. Ông đã đặt tên cho văn hóa nầy là Óc Eo. Sau đó, giới sử học nước ta cũng tổ chức nhiều đợt khai quật. Kết quả thu được là phát hiện một dạng kiến trúc cung đình mang tính cách tôn giáo, dấu vết của hệ thống kinh rạch cổ chằng chịt, hàng ngàn di vật cổ như gốm, tượng, trụ gỗ, công cụ…
Thạch Đại Đao (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Đường lên đỉnh khoảng 2 km, uốn lượn
quanh co giữa cây rừng. Đường được làm từ thời Pháp thuộc cho mục đích quân sự,
hiện nay được xây dựng hoàn chỉnh để phục vụ du lịch. Trên đỉnh núi có ngôi
chùa Sơn Tiên được xây dựng năm 1933 với không gian thâm nghiêm, tĩnh lặng. Cạnh
chùa cũng có một tảng đá lớn in vết tích “bàn chân tiên” giống ở núi Tô. Đứng ở
đỉnh núi, bạn có thể phóng tầm mắt quan sát toàn cảnh thị trấn Ba Thê, xa hơn
là dãy Thất Sơn bàng bạc phía Tây Bắc và biển Hà Tiên mờ đục phía Tây Nam.
Từ đỉnh núi xuống, gặp ngã ba giữa đoạn
đường, bạn có thể rẽ sang phải tham quan Thạch Đại Đao và chót Ông Tà. Thạch Đại
Đao là một tảng đá với hình dáng như cây đao khổng lồ, dài khoảng 3 mét. Người dân cho rằng đó là cây đao của trời. Theo lời kể thì vào một đêm mưa to gió lớn, có tiếng nổ
kinh hoàng phát ra trên núi Ba Thê. Sáng hôm sau, nhân dân phát hiện tảng đá rồi
ùn ùn rủ nhau lên núi xem, thêu dệt nên hàng loạt chuyện thần bí. Sau nầy, người
ta dựng tảng đá trên núi Ba Thê, xây thêm mái che để tạo điểm tham quan cho
khách du lịch.
Từ Thạch Đại Đao, ta tiếp tục lên
Chót Ông Tà gần đó. Đây là nơi thờ cúng Ông
Tà trên một cao điểm (chót) của núi Ba Thê. Neak Tà là thần bảo hộ trong tín
ngưỡng dân gian của cộng đồng Khmer. Qua quá trình tiếp xúc văn hóa, người Việt vẫn tôn trọng và đón nhận
hình tượng Ông Tà khắp Nam Bộ. Thông thường khi thờ phượng, Ông Tà được
tượng trưng bằng viên đá tròn. Tuy nhiên, ở Chót Ông Tà trên núi Ba Thê, Neak
Ta được thể hiện bằng pho tượng.
Đình thần Phan Thanh Giản (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Dưới chân núi Ba Thê có đình thần Phan Thanh Giản đơn sơ, uy nghiêm giữa vườn cây xanh mát, tựa lưng vào vách núi. Nhân dân làng Vọng Thê xưa đã trân trọng tôn thờ Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản làm Thành Hoàng của làng để tỏ lòng tưởng nhớ. Ngoại thất đình thần Phan Thanh Giản ở núi Ba Thê khá giản dị. Chánh điện được trang trí tôn nghiêm, ấm cúng, mang đậm tính dân tộc. Điểm nhấn ở trung tâm chánh điện là tượng Phan Thanh Giản với vẻ mặt phúc hậu, thư thái, phảng phất chút ưu tư. Đây là một trong những ngôi đình hiếm hoi thờ Phan Thanh Giản ở Nam Bộ.
Núi Sập là một thắng cảnh nổi tiếng, có
độ cao 85 mét, chu vi 3800 mét. Hiện vẫn
chưa có nguồn tư liệu nào giải thích
rõ ràng về tên gọi núi Sập. Sau nầy, núi được vua ban tên là Thoại Sơn để
ghi công Thoại Ngọc Hầu trong việc đào kinh Thoại Hà. Dân gian kể rằng, núi xưa
kia có hình con thỏ, nằm giữa cánh đồng bát ngát. Tuy nhiên, qua thời gian dài
là nơi khai thác đá, núi Sập ngày càng nhỏ dần. Không thể để mất một di tích
mang tên của vị danh thần, nên việc khai đá thác bị bãi bỏ.
Trong quá trình khai thác vô tình đã
tạo nên những hang sâu, hiện nay những lợi thế đó được đầu tư phục vụ du lịch. Nước
được dẫn vào các hố sâu tạo thành các hồ nhân tạo thông với nhau. Địa phương đặt tên cho điểm đến thú vị nầy là
hồ Ông Thoại, rộng khoảng 9 ha. Đến đây, du khách có thể đi thuyền dạo quanh hồ, thưởng ngoạn
cảnh quan sơn thủy thơ mộng, với không khí mát mẻ. Xung quanh hồ Ông Thoại
có các khối đá hình thù kỳ lạ, kích cỡ lớn
nhỏ khác nhau, là dấu vết còn sót lại của khai thác đá, nay vô tình biến
thành các đảo đá nhô lên trên mặt hồ. Đặc biệt, giữa hồ có tượng Thoại Ngọc Hầu
cao hơn 10 mét do tỉnh Quảng Nam - quê hương của Thoại Ngọc Hầu gửi tặng.
Một góc hồ Ông Thoại (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Sau khi dạo quanh hồ, bạn có thể thư
thả lên núi Sập để hóng mát, ngắm cảnh, viếng chùa. Đường lên núi được xây bậc
thang dễ đi. Trên hành trình đó, bạn sẽ có dịp
dừng chân tham quan những chùa miếu dọc theo triền núi, đặc biệt đỉnh núi có chùa Duyên Phước khá nổi
tiếng.
Chúng ta cũng có thể đến viếng đình thần Thoại Ngọc Hầu nằm trên triền núi Sập, được bao bọc bởi vườn cây xanh thoáng mát, rộng rãi, không gian yên tĩnh. Đình mang dáng vẻ cổ kính, với phong cách kiến trúc đậm chất Á Đông, nhưng cũng không kém phần lạ mắt. Sử sách ghi lại năm 1818, Thoại Ngọc Hầu vâng lệnh triều đình, trực tiếp chỉ huy công tác đào kinh nối Đông Xuyên với Rạch Giá. Kinh dài hơn 30 km, là công trình thoát lũ đầu tiên ở miền Tây thời nhà Nguyễn. Khi công việc đào kinh hoàn tất, để ghi công Thoại Ngọc Hầu, vua ban tên kinh là Thoại Hà, bên cạnh kinh có núi Sập cũng được tứ danh là Thoại Sơn.
Đình thần Thoại Ngọc Hầu (Ảnh: Vĩnh Thông) |
Để ghi lại niềm vinh dự nầy, Thoại Ngọc Hầu cho soạn một
bài văn khắc vào bia đá, kể lại quá
trình đào kinh và sự tích tên núi.
Đồng thời, ông cho lập miếu Sơn Thần trên triền núi Sập để dựng bia kỷ niệm. Hiện nay, bia Thoại Sơn vẫn còn được lưu giữ trong
đình. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây là một trong những bia đá cổ còn nguyên
vẹn và đẹp so với những bia khác trong cả nước. Các chữ trên bia vẫn còn sắc
nét, vì được lưu giữ trong đình, nên không bị thời tiết bào mòn. Tuy nhiên, người đời sau đã sơn màu lên bia, nền đỏ,
chữ vàng, làm mất đi diện mạo ban đầu.
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét