Ngôi miếu thờ bốn vị vua triều Nguyễn - Vĩnh Thông

08/05/2017
 Ở miền Nam, dấu ấn của chúa Nguyễn Ánh trong những năm dài tẩu quốc còn để lại rất sâu đậm trong lòng dân. Vùng đất trù phú nầy là nơi đã che chở cho ông trong những ngày tháng gian lao nhứt, cũng là nơi làm nền tảng cho sự thành công của ông trong sự nghiệp phục quốc. Vì vậy, đền miếu thờ vua Gia Long ở miền Nam không ít, trong đó có những đền miếu khá nổi tiếng như ở Nước Xoáy (Lấp Vò - Đồng Tháp), vồ Thiên Tuế núi Cấm (Tịnh Biên - An Giang), mũi Ông Đội (Phú Quốc - Kiên Giang)…
Song, một ngôi miếu thờ tập hợp các vị vua và công thần triều Nguyễn thì hiếm có. Có lẽ chúng tôi không quá lời khi nói rằng Miếu Hội ở Tân Châu (An Giang) là ngôi miếu duy nhứt trên địa bàn miền Nam thờ bốn vị vua đầu triều Nguyễn và tám vị khai quốc công thần của triều đại nầy. Một ngôi miếu giản đơn, nhưng mang giá trị hết sức đặc biệt!
Nguồn gốc ra đời ngôi miếu cũng không kém phần đặc biệt: bắt nguồn từ một biểu tượng trên chiến thuyền. Tương truyền ngày xưa các danh tướng đi ghe ô sa để dẹp giặc ở biên giới, chiếc ghe tiên phong luôn đặt trước mũi một khánh thờ bằng gỗ, sơn son thếp vàng, thiết kế kiểu cách như ngôi miếu thu nhỏ. Trong khánh thờ Tứ vị vương - Bát vị hầu. Đó là một biểu tượng thể hiện uy võ của triều đình và làm tăng nhuệ khí binh sĩ.
 Hình ảnh đó đi vào tâm thức cộng đồng, nhứt là ở vùng Vịnh Đồn - một đồn binh ở Tân Châu nằm cặp sông Tiền, tên gọi chính thức là bảo Chàng Tượng, nơi ngày xưa các thuyền chiến thường dừng chân. Để ghi dấu tiền nhân đồng thời có nơi thờ phượng các đấng quân vương và danh thần có công với đất nước, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh, người dân địa phương đã cùng nhau lập ngôi miếu đơn sơ, hướng mặt ra sông Tiền.




Người thành lập ngôi miếu là ông Nguyễn Văn Tài, đội trưởng đội quân thứ 9 trấn nhậm ở Vịnh Đồn, người địa phương gọi là ông Đội Chín Tài. Hiện nay con cháu ông còn giữ các vi bằng phong chức do tỉnh An Giang cấp vào các năm 1851, 1854, 1860, 1866. Ngôi miếu được thành lập trong thời kỳ quân đội triều Nguyễn còn hoạt động mạnh tại vùng nầy và phải sau khi ông Đội Chín Tài đến Vịnh Đồn nhưng trước khi Pháp xâm chiếm An Giang năm 1867, vậy chúng ta có thể xác định niên đại ra đời ngôi miếu khoảng thập niên 1850 - 1860.
Sau khi Nam kỳ rơi vào tay Pháp, biết nơi đây là miếu thờ vua triều Nguyễn, là nơi dân chúng thể hiện lòng trung thành với Nam triều, nên chánh quyền thực dân đã bắt phải thay đổi đối tượng thờ phượng từ Tứ vị vương - Bát vị hầu thay bằng Đại Càn Quốc gia Nam hải tứ vị thánh nương nương. Người dân địa phương ngoài mặc thực hiện theo yêu cầu của chánh quyền Pháp để bảo vệ ngôi miếu, nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm thờ phượng và tế lễ như cũ.
Đến năm 1900 ngôi miếu được trùng tu, nền đúc, tường xây gạch, nóc lợp ngói. Nội thất chia làm ba phần: vỏ ca là nơi hát bội, vỏ quy là nơi tế lễ, chánh điện là nơi thờ phượng. Trong những năm đầu thế kỷ XX, miếu còn là nơi sinh hoạt bí mật của những người theo Thiên Địa hội (dân gian gọi là hội Kèo Xanh, Kèo Vàng) nên được người dân gọi Miếu Hội đến nay.
Ngôi miếu hiện nay do trải qua chiến tranh, nhiều lần phải sửa chữa nên có phần giản dị hơn trước, song vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của đền miếu miền Tây Nam bộ. Nội thất miếu có kết cấu ba gian hai chái theo kiểu nhà vuông Nam bộ, cột tròn làm từ gỗ căm xe, nóc cổ lầu, mái tam cấp lợp ngói cổ kính. Giữa các cấp mái (bên ngoài) và ở các vách tường (bên trong) trang trí nhiều bức tranh sơn thủy do nghệ nhân địa phương vẽ, đơn giản mà thanh thoát. Chánh điện được trang trí bởi các bao lam, thành vọng, hoành phi, liễn đối, chạm khắc thẩm mỹ. Đối tượng thờ phượng ở án thờ thờ trung tâm là:
- Tứ vị vương: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức
- Bát vị hầu: Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Tri Phương, Châu Văn Tiếp, Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thoại.
Câu đối ở chánh điện khoán thủ niên hiệu bốn vị vua đầu triều Nguyễn:
Gia nghiệp Minh quân Thiệu lập Tự thừa hô vạn hải
Long Mạng chúa Trị dân Đức trạch quán thiên thu
Hai bên của án thờ chánh là bàn thờ Thành hoàng bổn cảnh và Quan thánh đế quân. Vách bên phải thờ Hữu ban liệt vị, Trần đốc tướng Giang Văn Trung, Đông trù tư mạng, Thổ địa long thần. Vách bên trái thờ Tả ban liệt vị, Bạch mã thái giám, Tiên sư tổ sư, Tiền hiền hậu hiền. Phía sau bàn thờ chánh là bàn thờ hai bậc, bậc trên thờ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bậc dưới thờ Cửu huyền thất tổ.
Quan sát cách bày trí thờ phượng đó, có thể thấy Miếu Hội ngoài là một di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật thì còn là một cơ sở tín ngưỡng có sự giao thoa văn hóa phong phú, độc đáo. Là miếu thờ vua và các danh tướng, nhưng Miếu Hội còn phối thờ nhiều đối tượng từ nhiều tín ngưỡng khác nhau. Đối tượng thờ ở đình làng có Thành hoàng bổn cảnh, Tả ban liệt vị, Hữu ban liệt vị, Tiên sư tổ sư, Tiền hiền hậu hiền, Bạch mã thái giám, Thổ địa long thần.  Phật giáo có bàn thờ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với bàn thờ Cửu huyền thất tổ. Tín ngưỡng thờ gia thần có Đông trù tư mạng. Thần của người Hoa có Quan thánh đế quân…
Miếu Hội có hai lệ cúng chánh trong năm: Cúng tống và cầu an năm mới vào ngày 15 - 16 tháng Giêng âm lịch, Lễ Kỳ Yên vào ngày 16 - 17 tháng 6 âm lịch. Nghi thức cúng tế đúng theo truyền thống lễ Kỳ Yên của các đình làng ở miền Nam. Trải qua gần hai thế kỷ, Miếu Hội không chỉ là một kiến trúc mang nhiều giá trị nghệ thuật, mà còn là chỗ dựa tinh thần để nhân dân thể hiện lòng yêu nước trong thời ngoại xâm, là địa chỉ đồng hành cùng những phong trào kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.

VĨNH THÔNG
* Bài đăng tạp chí Xưa & nay (Hội Khoa học Lịch sử VN),
số 471, tháng 5/2016.


© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 2 ]


nam phan 17:31, 09/05/2017

Bài viết hay, cung cấp bạn đọc nhiều kiến thức phong phú.

Vĩnh Thông 23:07, 12/05/2017

cảm ơn Phan Nam đã đọc và bình luận, chúc an vui

Gửi bình luận