Một vùng trọng trấn cõi Nam - Vĩnh Thông

28/07/2017
Châu Đốc nằm cạnh biên giới Việt Nam - Cambodia, là vùng đất cổ kính, có bề dày lịch sử, đậm dấu ấn văn hóa phương Nam. Địa thế Châu Đốc được nhiều người ca ngợi là “tiền tam giang - hậu thất lãnh” tức là phía trước có ngã ba sông, sau lưng có dãy Thất Sơn hùng vĩ. Năm 2013, Châu Đốc trở thành thành phố đầu tiên không phải là tỉnh lỵ ở đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng đất tương ứng với tỉnh An Giang ngày nay, thuộc chủ quyền Đại Việt vào năm 1757, khi vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn Phước Khoát để tạ ơn. Khi đó, khu vực biên cương còn hoang vu, dân cư thưa thớt, nên chưa thiết lập chánh quyền hành chánh. Tướng Nguyễn Cư Trinh lập ba đạo binh quản lý về mặt quân sự là Tân Châu đạo, Châu Đốc đạo và Đông Khẩu đạo. Đây là lần đầu tiên danh từ Châu Đốc xuất hiện.
Có người cho rằng Châu Đốc bắt nguồn từ Mort Chruk trong tiếng Khmer. Thật ra, Mort Chruk cũng là một tên gọi khác để chỉ vùng đất Châu Đốc, nhưng nó không phải nguồn gốc của danh từ “Châu Đốc”, mà địa danh nầy được sử sách triều Nguyễn phiên âm là Mật Luật. Mặt khác, Nguyễn Cư Trinh người xuất thân từ Nho học, không lý do gì lấy tên Khmer đặt cho một đạo binh, trong khi hai đạo kia lại dùng từ Hán Việt là Tân Châu và Đông Khẩu. Mort Chruk (Mật Luật) và Châu Đốc chỉ là hai danh từ khác nhau cùng chỉ một vùng đất mà thôi.
Đầu triều Nguyễn, Châu Đốc được đặt như “đặc khu” riêng gọi là Châu Đốc tân cương thuộc trấn Vĩnh Thanh. Quan Trấn thủ Vĩnh Thanh đóng ở Châu Đốc, còn chức Án sát và Lãnh binh đóng ở Long Hồ (Vĩnh Long). Năm 1832, vua Minh Mạng đổi đơn vị trấn ra tỉnh, đến năm 1836 chia Vĩnh Thanh thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Thành Châu Đốc là tỉnh lỵ tỉnh An Giang, nơi trú đóng của quan Tổng đốc An Hà (kiêm quản hai tỉnh An Giang và Hà Tiên). Địa phận tỉnh An Giang thời bấy giờ tương đương các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và một phần Đồng Tháp ngày nay.
Có thể nói, Châu Đốc là nơi được ta thu về muộn nhứt (1757), cũng là nơi hưởng lập ngắn nhứt, vì đến năm 1867 đã bị Pháp chiếm. Vậy mà, trong hơn một trăm năm tồn tại với tư cách là một vùng đất thuộc chủ quyền Việt Nam thì Châu Đốc phải ba lần đối phó giặc Xiêm xâm lược. Hiếm có nơi nào bị xâm lược nhiều trong khoảng thời gian ngắn như thế!
Năm 1771, khi vùng đất Tầm Phong Long vừa được thu về hơn mười năm thì quân Xiêm đã lăm le bờ cõi và sau đó tiến thẳng vào nước ta đánh Hà Tiên và Châu Đốc. Viện binh không kịp đến, Hà Tiên thất thủ, Mạc Thiên Tích chạy về Châu Đốc, nhưng không lâu sau Châu Đốc cũng thất thủ, Mạc Thiên Tích tiếp tục chạy sang Tân Châu. Sau đó, viện binh từ Long Hồ do Tống Phước Hiệp chỉ huy đến tái chiếm Châu Đốc. Đây là lần đầu tiên Châu Đốc đối phó với giặc ngoại xâm, chưa có kinh nghiệm, chưa đề phòng và chuẩn bị, tình thế lâm vào cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Năm sau, Nguyễn Cửu Đàm dẫn quân từ miền Trung ồ ạt kéo vào, theo đường sông đánh đuổi giặc Xiêm.
Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình vua Minh Mạng, chiếm thành Phiên An (Gia Định), nhờ Xiêm chi viện. Nhằm trả thù lần thất bại trước, cộng thêm ý đồ xâm lấn, chiếm cứ đất đai của ta, hàng vạn quân Xiêm do tướng Phi Nhã Chất Tri và Phi Nhã Khổ Lặc cầm đầu, đánh vào biên giới An Giang. Bên cạnh đó giặc Xiêm còn phối hợp với Lào đánh Nghệ An và Quảng Trị. Cuối năm 1883, tháng 11 Hà Tiên thất thủ, tháng 12 Châu Đốc thất thủ, thế giặc như chẻ tre ồ ạt tiến xuống phía Nam.
Quân đội triều Nguyễn rút về phục kích ở Vàm Nao đến đầu năm 1834 bắt đầu phản công. Với những danh tướng Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Doãn Uẩn… quân ta nhanh chóng làm chủ tình hình, đánh đại bại bọn giặc tại Thuận Cảng (hay Thuận Giang tức sông Vàm Nao ngày nay). Đợt xâm lăng 1833 - 1834 là cuộc chiến cam go, nguy hiểm, vùng biên thùy Châu Đốc lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng, thiệt hại rất lớn.
Chưa đến mười năm từ thất bại lần trước, năm 1841 giặc Xiêm lại lăm le bờ cõi. Chúng dựng đồn dọc bờ kinh Vĩnh Tế, thường xuyên qua gây hấn với quân ta cũng đang đóng dọc bờ kinh. Năm 1842, Xiêm chính thức hành quân sang đất Đại Nam, một cánh quân đường biển vào Hà Tiên, một cánh quân từ biên giới đổ vào vùng châu thổ. Quân đội triều đình từ miền Trung được đưa gấp vào Nam chi viện. Quân ta phản công và nhanh chóng đập tan âm mưu của giặc, đến năm 1845 ba nước Đại Nam - Chân Lạp - Xiêm La ký hòa ước, trong đó công nhận Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam.
Ngay từ buổi đầu, triều đình Nguyễn nhận định “Châu Đốc là trọng trấn cõi Nam”, là vùng đất chiến lược nên hết sức quan tâm. Trong chiến tranh, Châu Đốc cũng luôn là mục tiêu của quân thù. Ngót trăm năm đánh giặc ba lần, lớp trước ngã xuống, lớp sau chưa kịp trưởng thành lại phải đứng lên chống giặc. Nhưng Châu Đốc bất khuất, chẳng những chiến thắng oai hùng mà còn có thời gian kiến thiết quê hương, dựng làng thôn canh tác, xác lập chủ quyền thiêng liêng trên vùng đất mới. Và cũng chính vì thế, những vị quan đứng đầu tỉnh An Giang luôn là những danh tướng của triều đình như Trương Minh Giảng, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn, Nguyễn Công Trứ, Doãn Uẩn, Cao Hữu Dực…
Thời bình, chánh quyền và nhân dân tiếp tục chú trọng phát triển kinh tế và khai khẩn đất hoang. Việc khai hoang ở An Giang được triều đình cho dân chọn địa điểm, hỗ trợ nông cụ, miễn thuế những năm đầu. Đồng thời, mặc dù nhà Nguyễn chủ trương trọng nông ức thương, nhưng thương nghiệp tại đất mới lại khá dễ dãi, thậm chí còn có phần khuyến khích. Bởi lẽ, làm thế là để thương nghiệp tác động vào nông nghiệp, thúc đẩy nông dân canh tác. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, cả nông nghiệp lẫn thương nghiệp đều khá trì trệ.
Về thương nghiệp, năm 1818, trấn thủ Vĩnh Thanh vâng lịnh vua lấy một phần đất lập chợ Châu Đốc. Như vậy chợ Châu Đốc ra đời sớm, song có thể hoạt động không mấy hiệu quả, bởi Đại Nam nhất thống chí kể tên các chợ lớn ở An Giang đã không nói đến chợ Châu Đốc (và cả chợ Đông Xuyên tức Long Xuyên ngày nay). Về nông nghiệp, một công tác quan trọng là đào kinh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu chỉ huy từ năm 1819 đến 1824, vừa giúp lưu thông hàng hóa, vừa điều tiết chế độ nước: mùa lụt thoát bớt nước ra biển Tây và mùa khô cung cấp nước cho vùng biên giới.
Trong tác phẩm Đất quê hương, nhà văn Mai Văn Tạo - người con của Châu Đốc cảm nhận: “Kinh Vĩnh Tế như đại trường giang vượt qua ghềnh đá, rừng hoang, gò nổng vươn thẳng tới Hà Tiên… Mồ hôi và máu của lớp lớp người xưa đã quện lại trên những bờ kinh biêng biếc, trên cánh đồng xanh um rau quả xuân hè, vàng rộm lúa thu. Có thể nào quên màu xanh cây bát ngát, màu lúa vàng xao xuyến hôm nay đã trổi dậy từ những đầm lầy hoang sơ của nột thời xa khốn khó”.
Thật vậy, miệt Châu Đốc ngoại trừ vùng trũng, nê địa thường xuyên ngập úng, còn có vùng đồi núi lỏm chỏm phía Tây là nơi rừng thiêng nước độc “đi dễ khó về”. Cả hai vùng đất đều không thể canh tác, lại thêm điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Thế nên, những cư dân đầu tiên của An Giang hoặc là cao nhân ẩn sĩ tìm chỗ vắng vẻ để lánh đời, hoặc là những thành phần bất hảo như trộm cướp đóng căn cứ, kẻ bị truy nã lẩn trốn, kẻ tù tội thi hành án “đày ra biên ải”… Châu Đốc và vùng dọc theo biên giới, xưa là chốn lưu đày những tù phạm, đến đây như hình thức cải tạo, làm đồn điền.
Thấy được điều đó, năm 1850, Nguyễn Tri Phương nhậm chức Tổng đốc An Giang đã đẩy mạnh đưa tù nhân và dân thường đi khai hoang, lập đồn điền ở vùng biên giới. Bởi ông là một vị tướng am tường về bờ cõi Tây Nam, từng nhiều năm chinh chiến nơi đây. Công việc khai hoang đạt được những thành quả khả quan, tính đến năm 1854 đã lập khoảng 100 thôn và 21 đồn điền.
Năm 2017, cột mốc lịch sử đặc biệt khi tròn 260 năm thiết lập Châu Đốc đạo. Hai chữ “tân cương” trong Châu Đốc tân cương thời Gia Long gợi lên một vùng xa xôi thăm thẳm, hoang hóa bạt ngàn. Vậy mà từ chốn cô tịch ấy, thành quách và phố chợ dần phát triển dưới sự chung tay góp sức giữa người lưu dân và các vị tướng tài danh. Đó là nền móng vững chắc để hôm nay, thành phố biên thùy Châu Đốc đang vươn mình bắt nhịp và đóng góp vào chặng đường đi lên của đất nước. Làm sao không kỳ vọng rằng “trọng trấn cõi Nam” về mặt quân sự của triều Nguyễn ngày xưa sẽ trở thành “trọng trấn cõi Nam” về mặt kinh tế trong tương lai?


VĨNH THÔNG

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận