Xây chầu trong lễ Kỳ yên ở miền Nam - Vĩnh Thông

11/05/2017
 1. Dẫn nhập
Đại lễ Kỳ yên là nghi lễ đặc trưng của các đình làng ở Nam bộ, với mục đích chính là cúng tế Thành hoàng bổn cảnh cầu mong (kỳ) bình an (yên) cho làng thôn. Lễ Kỳ yên diễn ra mang tính định kỳ, theo cổ lệ là ba năm một lần, ngày nay các nơi thường tổ chức hằng năm. Nội dung nghi lễ cơ bản giống nhau ở các tỉnh miền Nam, cũng có những nghi thức chính như Thỉnh sắc thần, Túc yết, Chánh tế, Xây chầu, Đại bội, Hồi sắc…
Hát bội là một loại hình nghệ thuật, tuy nhiên trong lễ Kỳ yên nó không chỉ đơn thuần mang tính chất hoạt động giải trí (phần hội) mà còn là một phần trong nghi thức cúng tế (phần lễ). Thông thường, hát bội diễn vở tuồng thứ nhứt sau lễ Túc yết (nghinh đón thần), song trước khi bắt đầu buổi hát luôn phải có hai nghi thức: Xây chầu và Đại bội. Theo Sơn Nam [1994]: “Nét đặc trưng của đình miếu Nam Bộ (kể luôn của Trung Bộ, là địa bàn của Gia Định thành do Tả quân Lê Văn Duyệt cai quản) là dịp cúng tế Kỳ yên phải có lễ Xây chầu, Đại bội rôi đến hát bội”.
2. Xây chầu
Lễ Xây chầu nói một cách dễ hiểu là nghi thức đánh trống nhằm khuấy động buổi lễ đêm khuya. Về tâm linh, người ta tin rằng tiếng trống trong đêm thanh vắng là âm thanh “thông thiên triệt địa” vừa xua đuổi tà ma, vừa đem lại may mắn cho làng thôn. Về thực tiễn thì tiếng trống chầu có chức năng báo hiệu cho dân làng biết đêm hát sắp bắt đầu, phần hội trong lễ Kỳ yên sắp được mở màn.
Do lễ Túc Yết ở các đình không đồng nhứt về thời gian, nên lễ Xây chầu diễn ra sau đó vì thế cũng có sự khác biệt. Ngày xưa, đa phần các đình tổ chức lễ Túc yết vào 1 giờ sáng, như vậy lễ Xây chầu sẽ diễn ra khoảng 2-3 giờ sáng. Thời đó chưa có nhiều phương tiện giải trí, dân cư quanh năm cũng chỉ quanh quẩn trong làng mà không đi đâu vui chơi xa, mỗi năm chỉ có dịp Kỳ yên là lễ hội lớn nhứt, già trẻ xúm xít tập trung về đình làng và thức suốt đêm để đón chào thời khắc khai hội.
Song trong điều kiện xã hội phát triển ngày nay, việc tổ chức nghi lễ và hát bội vào đêm khuya e là khó giữ chân được người dân. Để bà con trong làng tiện việc dự lễ và Ban Quý tế các đình lân cận tiện đến cúng bái tỏ lòng giao hảo, đồng thời để vở tuồng có được đông đảo khán giả, lễ Túc yết có thể được sớm hơn (có đình tổ chức lúc 1 giờ trưa) nên lễ Xây chầu cũng diễn ra sớm hơn. Ngày nay, nhiều đình tổ chức Xây chầu vào khoảng 19 giờ, để đến 20 giờ thì vở tuồng đầu tiên sẽ chính thức được trình diễn - đúng vào thời điểm đêm hội làng đông khách hành hương nhứt.




Về diễn tiến nghi thức Xây chầu, đầu tiên giữa vỏ ca (nơi đặt sân khấu) đặt bàn hương án với nhang đèn, hoa quả, trà rượu… tượng trưng lời “xin phép” tổ hát bội, cạnh đó là trống chầu. Trống chầu là loại trống lớn, chuyên biệt, thân ngắn hơn trống thông thường, trên mặt có hình Thái cực. Người đánh trống chầu là người cao tuổi, có sức khỏe, có đạo đức, được nhân dân kính trọng. Người ta tin rằng chọn một lão niên học cao đức trọng khai chầu sẽ mang lại may mắn cho làng thôn. Về cơ bản, trước khi đánh trống, người cầm chầu phải nguyện hương trình thần, trình tổ hát bội, cầm dùi xá hoặc lạy hương án… đó là một số bước chung đều thấy ở các đình.
Phần tiếp theo tùy vào nghi thức riêng của từng ngôi đình mà diễn tiến khác nhau. Có đình nghi thức đơn giản, chỉ hô lệnh, vẽ bùa rồi đánh trống. Vẽ bùa là một dạng tín ngưỡng dân gian mang màu sắc Đạo giáo, có nơi vẽ bùa tứ tung ngũ hoành, có nơi viết những chữ Hán mang tính tượng trưng lên nền đất hoặc lên mặt trống, chẳng hạn chữ “thạnh”, “sát quỷ”… Có đình phức tạp hơn, chuẩn bị sẵn cành dương và tô nước, người chấp sự nhúng cành dương vào tô nước và rẩy xung quanh gọi là sái tịnh hoặc tẩy tịnh - biến thể của nghi thức Tán dương chi (dương chi tịnh thủy) trong Phật giáo Bắc truyền.
Miếu Bà Chúa xứ núi Sam là nơi thờ Mẫu tiêu biểu trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ, song cách cúng tế giống như các đình làng, và thực tế được mô phỏng từ lễ Kỳ yên của đình Châu Phú (Châu Đốc). Ngày xưa đình nầy từng cử người ra kinh đô Huế học cách cúng tế, nên nghi thức đến nay ít bị biến thể, đảm bảo tính truyền thống cao. Quá trình Xây chầu diễn ra với nhiều bước khá phức tạp, đọc nhiều câu nguyện. Trước tiên, người chấp sự vửa rẩy nước cành dương vừa đọc: “Nhứt xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn trường sanh, tứ xái quỷ diệt hình”. Sau đó cầm dùi dâng trước bàn thờ đọc: “Pháp luân thường chuyển tứ thiên vương. Bát bộ kim cang trấn tứ phương. Hộ kinh khởi cổ đàn lai trợ. Tùng thư xã tắc hộ miên trường”. Ta thấy có sự pha trộn Phật giáo và Đạo giáo rất rõ ràng.
Chưa dừng lại tại đó, chỉ mới là đọc trước khi đánh trống, còn trong lúc đánh trống người chấp sự vẫn đọc. Gõ nhẹ dùi bên trái, phải và ở giữa trống, mỗi lần đọc một câu: “Nhứt kích cổ chư thiên giáng phước, nhị kích cổ chư địa phi tai, tam kích cổ giáng thần lai khởi thủ”. Nhịp nhẹ dùi giữa mặt trống ba lần, mỗi lần đọc một câu: “Nhứt điểm huyệt hoàng trào tể chúa, vương bá hà xương, vạn vọng trình tường, thiên thu thiên hóa. Nhì điểm huyệt hải yến hà thanh, chư thần đinh ninh, uy linh hạt tấn. Tam điểm huyệt quốc thới dân cường, hoành trạch phong đăng, dân khương vật thạnh, bổn hội bá tánh thọ thọ phước”. Vừa đọc tiếp vừa  bắt đầu vào hồi trống đầu tiên: “Hét tợ lôi oanh, biến cổ chấn kim, kinh thiên đạt địa, ly mỵ tiệm hành, án oanh oanh, án oanh oanh, án oanh oanh”. [Trịnh Bừu Hoài, 2008]
Lăng Ông Bà Chiểu cũng là nơi nổi tiếng giữ được những nghi thức cổ truyền, song diễn tiến Xây chầu lại phức tạp hơn, nhiều câu nguyện hơn. Trước khi đánh trống là những câu chúc tụng, bài chú lau mặt trống, khai trống, điểm dùi… Sau đó để bắt đầu khai chầu, người chấp sự hô: “Phụng thỉnh thần cổ linh linh, lai giáng bổn đàn, minh minh chứng chiếu”. Tiếp theo ba hồi chín tiếng, mỗi lần đọc: “Nhứt kích cổ thiên thời đại thạnh, nhì kích cổ địa lợi trường tồn, tam kích cổ nhơn hòa vĩnh phước”. Đến ba hồi chánh, trước mỗi hồi đọc một câu: “Nhứt liên thấu triệt thiên đình, nhì liên thông toàn trung giới, tam liên đáo tận long cung” - ba câu nầy biểu thị rất rõ ý nghĩa của nghi thức Xây chầu “thông thiên triệt địa”.
Có đình đọc ngắn gọn hơn, chỉ bằng ba câu tương ứng với ba hồi trống chánh: “Hà an xã tắc, thôn trung khương thới, lê thứ thái bình” hay “Nhứt đả cổ linh thần lai giáng hạ, nhì đả cổ bổn thôn hương chức bính đinh tân cựu khương thới, tam đả cổ bá tánh bình an vô sự”. Ở Miếu Hội (Tân Châu) nơi thờ bốn vị vua đầu triều Nguyễn, mỗi hồi trống đọc một câu: “Nhứt đả cổ thiên hạ thái bình, nhì đả cổ nhơn dân an lạc, tam đả cổ quốc thới dân an” [Huỳnh Long Phát, 2005].
Thống nhứt là đánh ba hồi, nhưng số tiếng trong từng hồi lại mỗi đình mỗi khác, chỉ cùng quy luật “tiền bần hậu phú” tức là càng về sau phải có số tiếng nhiều hơn và đánh gấp rút hơn, thể hiện ước mong dân chúng về sau sẽ sung túc hơn trước. Ngày xưa thường đánh ba hồi là 80 - 100 - 120 tiếng. Hiện nay rút ngắn lại còn 20 - 40 - 60 tiếng hoặc 30 - 40 - 50 tiếng, vì những người cầm chầu đều đã lớn tuổi. Có nơi lại đánh 18 - 36 - 72 tiếng hoặc 48 - 72 - 108 tiếng, đây là những con số tâm linh, mang tính thiêng. Nhưng cũng có nơi không định số tiếng, chỉ đánh mang tính tượng trưng, sao cho “tiền bần hậu phú” là được.
Cuối cùng, người chấp sự hô lớn những câu mang tính báo hiệu hát bội bắt đầu, mỗi nơi mỗi khác nhau, ví dụ như: “Ca công tiếp giá”, “Nhạc lễ ca công tiếp lễ khai tràng”, “Bổn bang nhạc công đồng tấu cửu liên nghinh thiên tiếp giá”, “Thôn trung hội viên nam nữ đồng thọ phước”, “Ba hồi trống đã phân minh, chúc thượng, chúc thánh, chúc nhạc công tiếp giá nghinh thần”… Tiếp đó, nhạc trỗi lên các diễn viên đoàn hát bắt đầu ra sân khấu để thực hiện lễ Đại bội.
3. Đại bội
Đại bội là nghi thức tập hợp các hình tượng sân khấu có nội dung giải thích sự hình thành trời đất vạn vật. Lễ nầy gồm bẩy phần có nội dung theo thứ tự: Thái cực, Lưỡng nghi, Tam tài, Tứ tượng, Ngũ hành, Bát tiên, Gia quan. Tuy nhiên cách gọi tên từng nghi thức khác nhau tùy theo mỗi đoàn hát. Ở đây chúng tôi xin giới thiệu diễn tiến lễ Đại bội của đoàn tuồng cổ Thái Bình - đoàn hát bội nổi tiếng lâu đời ở tỉnh An Giang, trình diễn tại đình Bình Thủy (Châu Phú - An Giang), bên cạnh đó có phụ chú thêm một số cách gọi khác:
- Điềm hương điềm hoa (có nơi gọi Khai thiên lập địa): Nghi thức nầy tượng trưng cho ngôi Thái cực, thuở vũ trụ còn sơ khai, hỗn độn.
- Xang mặt nhựt nguyệt (có nơi gọi Lưỡng nghi hoặc Khai nhựt nguyệt): Thái cực sanh Lưỡng nghi là âm dương vừa đối lập vừa thống nhứt với nhau chính là quy luật của vạn vật. Một nam mặc đồ đỏ và cầm chén bịt vải đỏ, một nữ mặc đồ trắng và cầm chén bịt vải trắng, hai người múa và giao hai cái chén lại với nhau, tượng trưng âm dương hòa hợp, sự sống sanh sôi nảy nở - màu sắc tín ngưỡng phồn thực.
- Tam tài Phước Lộc Thọ (có nơi gọi Tam tài hoặc Phước Lộc Thọ): Từ Lưỡng nghi sanh ra Tam tài là Thiên Địa Nhơn, đất trời người giao hòa thì vạn vật hóa sanh. Sân khấu khó có thể thể hiện Thiên Địa Nhơn nên hình tượng hóa bằng ba vị tiên ông Phước Lộc Thọ, ban phước lành, tiền tài và sức khỏe.
- Tứ tướng Thiên vương (có nơi gợi Tứ tượng hoặc Tứ Thiên vương): Lưỡng nghi sanh ra Tứ tượng là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Sân khấu hình tượng hóa Tứ tượng bằng bốn vị thiên vương trên cõi trời. Họ múa với những tấm liễn viết chữ Hán bằng mực tàu trên giấy đỏ (hồng đơn) sau đó trao lại cho Ban Quý tế, nội dung cầu chúc những điều tốt lành cho làng thôn và bá tánh.
- Ngũ hành đại bội (có nơi gọi Ngũ hành hoặc Đứng cái): Từ Tam tài sanh ra Ngũ hành là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Bốn cô gái đứng xung quanh tượng trưng cho bốn mùa - cũng là tượng trưng cho bốn hành Kim Mộc Thủy Hỏa, một chàng trai đứng ở giữa tượng trưng cho loài người và cũng hành Thổ - hành trung tâm. Họ hát những lời hát khá dài, nội dung chủ yếu là chúc tụng triều Nguyễn, điều nầy rất hợp với tâm lý người Nam bộ, ví dụ như: “Vận mở trùng nguơn, vận mở trùng nguơn. Rày mừng thấy Nam phang sanh thánh chúa. Dẹp phá loài Bắc định, khử tà quy chánh đòi noi. Nguyễn Vương lên sửa trị, thiên hạ ca chơi thái bình” [Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường, 1999]
- Bát tiên tọa vị (có nơi gọi Bát tiên quá hải hoặc Bát tiên hiến thọ): Từ Tứ tượng sanh ra Bát quái (Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài) là các quẻ của Dịch lý. Để tạo sự sinh động, sân khấu hình tượng hóa thành Bát tiên.
- Gia quan tấn tước (có nơi gọi Địa gia quan): Diễn viên đóng vai ông Địa bước ra sân khấu, vâng lệnh Ngọc đế xuống trần ban phước lành cho mọi người. Đoạn nầy thường vui tươi, hài hước.



Sau nghi thức Đại bội, đoàn hát bắt đầu diễn tuồng thứ nhứt. Thông thường các đình diễn ba tuồng vào ba ngày lễ Kỳ yên, song ngày nay có nơi thu gọn ngày lễ lại nên chỉ diễn hai tuồng, cũng có nơi cúng với quy mô lớn kéo dài nhiều ngày nên tăng lên bốn hoặc năm tuồng. Cơ bản những tuồng hát thể hiện lý tưởng tốt đẹp như Phụng Nghi Đình, Thần nữ dâng Ngũ linh kỳ, San Hậu… Tuồng cuối cùng cũng đồng thời là nghi thức Tôn vương, hai đào kép chánh trong tuồng sẽ rời sân khấu mang dâng ấn kiếm dâng lên bàn thần.
4. Tóm kết
Lễ Xây chầu và Đại bội rõ ràng có sự pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian với nhiều yếu tố như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Dịch lý… đồng thời lại mang tính địa phương linh hoạt. Lễ tiết có lẽ rất rườm rà theo cách nhìn của giới trẻ thời hiện đại, song ông bà ta ngày xưa đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo đó với mục đích không gì khác hơn là trân trọng lễ nghĩa truyền thống và giá trị làm người. Điều đó, Sơn Nam [1990] dẫn lại cách lý giải khá thi vị của ông Đỗ Văn Rỡ - nguyên Trưởng Ban Quý tế Lăng Ông Lê Văn Duyệt là “tròn đạo trời, vuông đạo đất, sáng đạo người”.

VĨNH THÔNG
* Bài đăng tạp chí Xưa & nay (Hội Khoa học Lịch sử VN),
số 472, tháng 6/2016.
_______________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trịnh Bửu Hoài (2008), Lịch sử xây dựng và phát triển Miếu Bà Chúa xứ núi Sam, Nxb Phương Đông.
2. Sơn Nam (1994), Thuần phong mỹ tục Việt Nam, Nxb Đồng Tháp.
3. Sơn Nam (1990), Lăng Ông Bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, Nxb Long An.
4. Huỳnh Long Phát (2005), Di tích lịch sử Miếu Hội, Sở VHTT An Giang.
5. Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường (1999), Đình Nam bộ xưa & nay, Nxb Đồng Nai.

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận