Nhạc lễ Nam bộ đôi điều suy ngẫm - Vĩnh Thông

05/03/2017
Ngày 5/12/2013, đờn ca tài tử Nam bộ được Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là một vinh dự lớn không chỉ cho những người hoạt động trong bộ môn nghệ thuật nầy hay người dân Nam bộ mà còn cho cả nền văn hóa Việt Nam. Đến nay, việc bảo tồn và phát huy đờn ca tài tử chưa phải là điều quá lo lắng, bởi đờn ca tài tử giờ đây không dễ bị mai một. Không chỉ đợi đến khi được vinh danh, mà trước đó đờn ca tài tử đã luôn được quần chúng nhân dân lưu truyền rộng rãi, đó là điều rất đáng hoan nghinh. Song, nhìn sự trân trọng ấy, chúng tôi lại không khỏi chạnh lòng cho một loại hình nghệ thuật vốn là cái nôi hình thành nên đờn ca tài tử, đó là nhạc lễ cổ truyền Nam bộ - đang dần bị mai một và lãng quên!
Nhạc lễ Nam bộ vốn có nguồn gốc từ Nhã nhạc cung đình Huế được thể hiện trong các cuộc tế lễ của triều đình, đã theo chân các lưu dân miền Trung vào Nam khai mở vùng đất mới. Xa kinh đô, người Việt ở Nam bộ đã cải biên nhạc cổ truyền trở nên bình dân hơn và có phần pha trộn với các làn điệu dân gian, đồng thời do sự cộng cư với các tộc người Khmer và Hoa dẫn đến giao lưu và tiếp biến âm nhạc dân gian của họ, từ đó hình thành một dòng nhạc riêng biệt mà ngày nay chúng ta gọi là Nhạc lễ Nam bộ.
Nhạc lễ được sử dụng trong nghi lễ ở các đình miễu và một số nghi thức trong gia đình (đáng chú ý nhứt là tang lễ). Ngoài ra, trong quá trình hình thành và tồn tại đến nay, ba tôn giáo sử dụng nhạc lễ trong nghi thức và có những đóng góp cho nhạc lễ là Phật giáo (Bắc truyền), Cao Đài và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Phật giáo tiếp nhận nhạc lễ khá sớm, đưa vào sử dụng trong các khóa lễ trì kinh, người có những đóng góp lớn cho nhạc lễ mà đời sau còn ghi công là sư Nguyệt Chiếu. Đạo Cao Đài cũng sử dụng nhạc lễ trong nghi thức của mình, ngoài ra còn tụng kinh bằng các làn điệu dân tộc như Nam ai, Nam xuân… Không thể không kể đến Thượng Sanh Cao Hoài Sang đã có nhiều nghiên cứu cải biên nhạc lễ. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa chủ yếu phát triển ở vùng Tri Tôn - An Giang, ngày nay vẫn còn bảo tồn được nhạc lễ cổ truyền để sử dụng trong các khóa lễ của mình.
Quan điểm “lễ phải có nhạc” luôn được người miền Nam ý thức sâu sắc. Các đình làng hầu như hai bên vách chánh điện đều luôn có hai bàn thờ đối xứng nhau là Tổ nhạcTổ lễ vừa thể hiện lòng tri ân đến sự khai phá âm nhạc và nghi lễ của các thế hệ đi trước, vừa nhắc nhở lòng trân trọng âm nhạc và nghi lễ cho thế hệ hiện tại. Bản Nhớ ơn Tổ nghiệp (điệu Long ngâm) trong đờn ca tài tử, vẫn thể hiện rất rõ ý thức về vai trò của nhạc lễ qua những lời ca ngợi:
Và để nhớ ơn
Những hy sinh cho dân tộc trường tồn
Những dựng xây cho đất nước phú cường
Gợi lòng hoài vọng thiết tha
Đức ân nhuần gội
Chan hoà miên man là dòng nhạc lễ
”.
Người miền Nam rất rạch ròi khi dùng tên gọi “đờn ca tài tử” và “nhạc lễ”. Đờn ca tài tử “rặt” Nam bộ là phải trình diễn ngoài trời, các nghệ sĩ trải chiếu giữa sân vườn ngồi đờn ca, đó là một biểu hiện của chất “tài tử”. Trong khi đó, nhạc lễ thuộc dạng “thính phòng” chỉ được sử dụng trong không gian cơ sở thờ tự hoặc gia đình trong những lúc có nghi lễ.
Qua cách đặt tên, người miền Nam đã ý thức và thể hiện rất rõ vai trò của từng loại hình nghệ thuật. Thật vậy, người xưa không mang đờn ca tài tử trình diễn ở vỏ ca trong đình làng (sân khấu hát bội) vì nó chỉ đơn thần là hình thức nghệ thuật dùng để giải trí chứ không mang tính nghi lễ. Tiếc là ngày nay một số nơi do không hiểu điều nầy, nghĩ rằng đờn ca tài tử đã được UNESCO vinh danh thì cần phải được trân trọng, nên đã mang lên vỏ ca trình diễn, vừa làm mất chất vừa không đúng vai trò.
Dù chúng ta đã và đang bảo tồn và phát triển đờn ca tài tử nhưng thực tế nó vốn khó bị mai một, trong khi đó nhạc lễ lại đang đứng trước nguy cơ mai một rất lớn mà chúng ta dường như đang nhắm mắt làm ngơ. Bởi vì:
- Thứ nhứt, đờn ca tài tử loại hình nghệ thuật bình dân, mục đích giải trí, nên dễ đi vào đời sống quần chúng nhân dân lao động. Nhạc lễ lại là là loại hình nghệ thuật mang tính hàn lâm hơn và nặng ý nghĩa nghi lễ, mang tính “thiêng”, quần chúng bình dân khó tiếp cận.
- Thứ hai, đờn ca tài tử có lời, dễ thuộc, dễ nhớ, cách hát xướng không khó nên ai cũng có thể tham gia. Nhạc lễ lại không có lời, tính lý thuyết cao, đòi hỏi nhạc công phải được học hỏi và rèn luyện một cách bài bản trong thời gian dài nên không phải ai cũng có thể tham gia.
- Thứ ba, đờn ca tài tử có thể trình diễn bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, nên lặp đi lặp lại trong đời sống hằng ngày. Nhạc lễ lại chỉ có thể tấu lên trong những không gian tâm linh và chỉ vào những dịp cúng tế, nên không thường xuyên được trình diễn.
Như thông tin báo chí từng đưa, nghệ nhân Phan Văn Nhứt (Tám Nhứt, sinh năm 1924, quê ở Long An) sau gần 70 năm gắn bó với nhạc lễ mới được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vào năm 2006. Khi ấy, sức khỏe ông đã yếu và lãng tai nặng, sau đó ông qua đời vào năm 2013. Nói theo cách của báo chí thì đây là một “báu vật nhân văn sống” của dân tộc, nhưng cũng vừa là trường hợp đáng tiếc điển hình trong việc bảo tồn nhạc lễ Nam bộ.
Có lẽ không quá lời khi nói rằng, nhạc lễ Nam bộ hiện nay đã đến trình trạng báo động! Các nghi lễ tại gia đình dần không còn sử dụng nhạc lễ nữa, thậm chí cả đám tang. Đình chùa vẫn còn sử dụng nhạc lễ trong nghi thức cúng tế, chỉ duy trì nhạc lễ trong phạm vi nầy ngoài mặt có thể xem là sự bảo tồn nhưng thực ra đã vô tình thu hẹp sự phong phú của nhạc lễ, bởi nhạc công chỉ truyền nhau những bài bản nhứt định, còn những bài bản ngoài phạm vi đó sẽ dễ bị thất truyền. Ví dụ đình làng chủ yếu sử dụng Ngũ đối hạ, Nghinh thiên tiếp giá, Ngũ điểm… lễ tang chủ yếu sử dụng bài Nam ai, Xuân nữ… người dân bình thường chỉ học vài bài bản đó thì có thể sử dụng trong vài nghi lễ cần thiết.
Đó là nói về lượng, còn về chất, dẫu là chỉ lưu truyền một số bài bản ít ỏi, nhưng nhạc công vẫn chưa thể thể hiện được cái “thần” của loại hình nghệ thuật nầy. Họ có thể thuần thục về mặt kỹ năng để thể hiện một bài bản hoàn chỉnh, nhưng chưa thể tiến lên đến mức điêu luyện, điều đó cũng không lấy làm khó hiểu, bởi một năm họ chỉ thể hiện nhạc lễ vài lần. Ban nhạc lễ ở một số nơi còn đưa vào các nhạc cụ phương Tây như guitar, organ, violin… Đáng lo hơn là việc nhạc lễ bị “tam sao thất bổn” ở nhiều nơi, bị pha trộn với nhạc tài tử, cải lương, hát bội, dân ca… Đây là vấn đề cần phải được điều chỉnh phù hợp để mỗi loại hình thể hiện được tính chất đặc trưng của mình.
Vì thế hiện nay, việc bảo tồn nhạc lễ là điều rất cấp thiết. Phải chăng, chúng ta đang “ngủ quên” trên niềm vinh dự đờn ca tài tử được thế giới vinh danh, để rồi quay lưng với một loại hình nghệ thuật vô cùng đặc sắc đã góp phần hình thành nên đờn ca tài tử mà chúng ta đang tự hào hôm nay? Bảo tồn nhạc lễ Nam bộ là bảo tồn di sản của tiền nhân, bảo tồn tinh hoa sáng tạo của người Việt trên vùng đất mới phương Nam. Song, bảo tồn phải gắn với chất lượng chứ không phải công việc mang tính phong trào, làm thế nào để nhạc lễ không bị lai căng, biến dạng, mất gốc. Bởi vì:
Đã qua bao triều đại
Chuỗi âm thanh lễ nhạc không ngừng
Thấm vào huyết quản dân ta
Tạo thành nền đạo đức phương Đông
Nhạc lễ Nam bộ nếu có một ngày không còn nữa?

VĨNH THÔNG
* Bài đăng tạp chí Đồng Tháp xưa & nay (Hội Khoa học Lịch sử ĐT),
số 55, tháng 1/2017.

------------------

* Xem thêm: video clip trích đoạn "Nhạc lễ Nam bộ: Khai lễ" được trình diễn tại lễ đón nhận bằng UNESCO công nhận Đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, tối ngày 11/2/2014 tại dinh Độc Lập - Sài Gòn.



© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận