Sự thất truyền và đồng hóa của văn hóa Việt cổ - Hoàng Tuấn

14/05/2016

Theo các sử gia lớn thì dân Bách Việt đã cư trú trước khắp miền Nam Trung Hoa hiện nay. Trải qua hàng ngàn năm bị dân tộc Hoa - một dân tộc du mục thiện chiến phương Bắc - tràn xuống xâm chiếm lãnh thổ, tiếp theo là hàng ngàn năm bị đô hộ và "đồng hóa" nền văn hóa cổ của cả một dân tộc bị ra sức xóa bỏ cùng với chữ viết "Khoa Đẩu".
Tìm lại nền văn minh bị thất truyền
Tuy nhiên, cốt lõi của nền văn minh nông nghiệp phát triển rất sớm của dân tộc này cùng những "thuần phong mỹ tục" đi theo thì không thể xóa bỏ, nhưng đã bị "đồng hóa" vào nền văn hóa của kẻ chiến thắng, thành nền văn hóa Hán tộc, nhất là từ sau khi chữ Hán Nho được phổ biến.
Kẻ chiến thắng thống trị đã biến chúng thành sản phẩm của chính mình sau khi đã cố gắng xóa bỏ mọi vết tích của nền văn hóa Âu Lạc cổ. Tuy nhiên, các học giả lỗi lạc sau này của chính nước Trung Hoa khi viết về Lịch Toán Can Chi cũng không rõ nguồn gốc lịch này có từ bao giờ và từ đâu lại. Họ chỉ đơn thuần căn cứ vào sự ghi chép đơn giản trong Sử Ký Tư Mã Thiên sau này. Họ vẫn thắc mắc về nguồn gốc hình thành Hệ Can Chi, không hiểu vì sao "con chuột hôi hám" lại có thể đứng đầu 12 Địa Chi! (vì Tý là con chuột). Còn con Rồng (Thìn) cao quý lại phải đứng hàng thứ năm?
Đây không phải là sự phủ nhận nền văn hóa vĩ đại của nước Trung Hoa suốt quá trình lịch sử lâu dài, mà chỉ là để góp phần chứng minh sự đóng góp quan trọng của nền văn minh Việt cổ trong nền văn hóa rộng lớn của các nước Á Đông mà Trung Quốc là đại diện hiện nay. Chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tác giả mong bạn đọc bổ cứu để làm sáng tỏ thêm nền văn minh Việt cổ của tổ tiên xưa đã bị thất truyền.
Sử chứng cho vùng đất rộng lớn của người Việt cổ
Nhiều tài liệu cổ của Trung Quốc cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Bách Việt...
Âu Việt, có chữ Âu, có thể là loại chim phổ biến trên vùng đồi núi, ven các triền sông xưa, gần giống như loài Hải Âu sau này.
Lạc Việt, có chữ Lạc, là loại Ngỗng trời hay bay từng đàn lúc chiều tà để tìm nơi trú ẩn. Từ "Lạc" sau này lại đã biến thành từ "Hạc" và trở thành con "Hạc thờ" ở các Đền - Miếu khắp đất nước từ thời xưa đến nay.
Lãnh thổ của Âu Việt và Lạc Việt: Nhiều tài liệu cổ của Trung Quốc cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Tam Miêu và Bách Việt, trong đó dân tộc Việt Thường ở phía Nam lưu vực sông Dương Tử, từ hồ Động Đình và Phiên Dương (thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Lưỡng Quảng ngày nay) trở xuống là đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển.
Dựa theo nhiều công trình nghiên cứu về cổ sử và dân tộc học châu Á của nhiều học giả trên thế giới đều có kết luận chung rằng: Người Hoa xưa kia vốn là một bộ tộc du mục thiện chiến ở phía Tây Bắc Trung Quốc, đã sớm thôn tính các quốc gia lân cận thành lập một liên bang rộng lớn miền Bắc Trung Quốc, sau tràn xuống chiếm hết vùng Trung Nguyên và cả miền nam Trung Quốc hiện nay. Thời kỳ tiền sử xa xôi đó, ở lưu vực hai con sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử của Trung Quốc, vốn là địa bàn cư trú của các dân tộc gọi là Tam Miêu và Bách Việt. Gọi là Bách Việt không phải nhất thiết là có 100 giống Việt mà số 100 chỉ là để chỉ nhiều bộ tộc Việt khác nhau chuyên nghề chài lưới, đánh cá và trồng lúa nước, cùng chung sống ở khắp lưu vực các sông này khi xưa mà thôi.
Ngay trên mảnh đất nhỏ hẹp còn lại là nước Việt Nam ngày nay, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số còn tới hơn 50 dân tộc thiểu số anh em khác sinh sống. Như thế thì vào thời cổ đại từ "Bách Việt" chắc chắn là để chỉ vài trăm dân tộc chung sống trên một địa bàn rộng lớn và có nền văn hóa gần giống nhau. Dân Bách Việt xưa gồm: Âu Việt có Miến, Thái, Lào... Miêu Việt có Mèo, Mán, Lô Lô... Lạc Việt có Việt, Mường, Tày, Thổ... Tất cả các chủng Việt này gọi chung là Bách Việt. Sách Trung Quốc xưa còn gọi họ là Viêm Việt (vì họ tìm ra lửa đầu tiên, biết chế tác nhiều thứ từ "lửa" nên gọi là "viêm" - có nghĩa là nhiệt, nóng).
Vì các dân tộc này chiếm cứ khắp vùng Trung Nguyên từ lâu đời, nên họ đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển. Để phục vụ cho nghề nông tất yếu họ phải hiểu biết khá tốt về thiên văn lịch toán và không thể không có chữ viết. Dân tộc Hán dưới thời vua Nghiêu gọi chữ của họ là chữ "Khoa Đẩu, (có lẽ vì chữ buổi sơ khai chỉ là những ký hiệu "chấm trắng" và "chấm đen" nối nhau cùng những vạch đứt và vạch liền, trông giống như những con nòng nọc. Đây cũng chính là các chữ số ghi bằng các ký hiệu trên trong hai bảng Hà Đồ và Lạc Thư cổ.
Sử gia Trung Quốc Chu Cốc Thành trong cuốn "Trung Quốc Thông Sử" của ông cũng viết rằng: "Viêm tộc (chỉ dân Tam Miêu và Bách Việt) đã bước vào nước Tàu trước theo sông Dương Tử. Thoạt đầu chiếm 7 tỉnh Trường Giang rồi tỏa lên phía Bắc chiếm 6 tỉnh Hoàng Hà, rồi lan xuống miền Nam chiếm 5 tỉnh Việt Giang, gồm tất cả 18 tỉnh. Vì thế, khi Hoa tộc vào thì Viêm Việt đã cư ngụ khắp nơi... Mãi sau Hoa tộc mới theo sông Hoàng Hà chiếm 6 tỉnh miền Bắc đẩy dân Tam Miêu đi, rồi mới tỏa xuống phía Nam đẩy lùi Viêm Việt"...
Sự xâm lăng này của Hoa tộc kéo dài nhiều ngàn năm mới đồng hóa nổi các dân tộc phía Nam.
Theo sử gia Mỹ Harald Wiens, tại Đại học Yale (Mỹ), trong cuốn "Chinese expansion in South China" cũng viết: "Viêm Việt đã vào nước Tàu theo ngọn sông Dương Tử miền nước Thục. Vì thế cũng gọi văn minh Viêm Việt là văn hóa Thục Sơn. Trong 600 sắc tộc được nghiên cứu thì nổi bật là Thái và Việt. Thái nổi về chính trị còn Việt nổi về văn hóa".
Như vậy, theo các sử gia lớn trên thì dân Bách Việt đã cư trú trước khắp miền Nam Trung Hoa hiện nay. Trước thời đại Hạ Vũ, nước Tàu mới chỉ là một châu: Châu Đào Dương do vua Nghiêu cai trị, hiệu là Đào Đường. Từ Hạ Vũ về sau mới mở rộng đất đai ra vùng Hoa Hạ và nước Tàu xưa mới trở thành nước Trung Hoa rộng lớn.
Trước nạn bành trướng của người Hán dân Văn Lang xưa luôn tìm cách "cống nạp" để mong bang giao và cầu hòa. Năm thứ 6 đời Thành Vương nhà Chu (tức năm Tân Mão - 1.110 trước CN), sử Trung Quốc cổ cũng chép: "Phía Nam Giao Chỉ có người Việt Thường sang dâng chim Trĩ, qua ba lần thông ngôn, nói rằng: Đường xá xa xôi, non sông cách trở, sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau, cho nên phải qua ba lần thông ngôn để sang chầu... Chu Công nói: Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận lễ sơ kiến. Chính lệnh không khắp tới nơi, người quân tử không nhận người ấy xưng thần... Đến khi sứ giả về quên mất đường, Chu Công cho làm xe chỉ nam... sứ giả đi xe ấy theo đường biển... đầy năm trời mới về đến nước" (Ngự phê thông giám tập lãm - quyển 3 tờ 10).
Như vậy, sứ giả Việt Thường trên phải đi đường biển gần một năm mới về đến nước, rất có thể là sứ thần của các bộ tộc Lạc Việt tận miền lưu vực đồng bằng Bắc bộ ngày nay.
Văn minh Việt cổ bị phương Bắc đánh cắp như thế nào?
Có những chứng cứ chứng minh về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản - là nền văn minh "Lịch toán - Nông nghiệp"...
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu sau này được Ngô Sĩ Liên đời Lê biên soạn lại cho đến cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thời Pháp thuộc và các bộ Lịch Sử Việt Nam của nhiều tác giả Viện Sử Học thời hiện đại thì: Nước ta được thành lập từ thời Hồng Bàng, với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất, tức năm 2879 trước Công nguyên, tính đến năm 2013 này thì đã 4.892 năm.
Sau Kinh Dương Vương là 18 đời các Vua Hùng nối tiếp, với tên nước là Văn Lang. Nước Văn Lang thời đó rộng lớn, phía Bắc là miền đồng bằng phì nhiêu thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp Hồ Động Đình, phía Nam giáp Lâm ấp (Chiêm Thành cũ), Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông. Ngay tên Kinh Dương Vương cũng đã mang ý nghĩa rõ ràng về "vua của hai vùng đất rộng lớn là châu Kinh và châu Dương cổ" - nay đã thuộc Trung Quốc.
Nhiều người còn nghi ngờ về thời kỳ lập nước xa xôi trên với lý do duy nhất là 18 đời vua Hùng không thể kéo dài đến hàng ngàn năm (mỗi đời vua trong các Triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn sau này cũng chỉ từ 15 - 30 năm). Thời các vua Hùng nếu mỗi đời kéo dài đến 50 năm thì 18 đời Hùng Vương cũng chỉ là 900 năm. Như vậy, thời Hùng Vương kéo dài đến hàng ngàn năm là hoang đường!
Tuy nhiên, nếu xét thời gian chỉ ngắn ngủi như trên thì không phù hợp với nhiều hiện tượng lịch sử bành trướng xâm lược của Đế quốc Hán Mông xưa. Vì vậy, 18 đời vua Hùng chỉ là 18 chi họ Hùng Vương, mỗi chi gồm nhiều vị nối tiếp nhau cai trị đất nước, đều gọi là đời Hùng Vương thứ nhất, hoặc thứ hai... Nếu chi họ đó không có con trai hay người tài nối vị thì dòng họ gần kề sẽ lên nối ngôi và được gọi là đời Hùng Vương thứ ba hay thứ tư...
Điều này phù hợp với thời đại Thái cổ của Tổ tiên xưa: Người đứng đầu các bộ lạc thời "săn bắn và thuần hóa súc vật" đều được gọi là Phục Hy; người đứng đầu các bộ lạc thời "nông nghiệp đầu tiên" đều được gọi là Thần Nông. Vì vậy, thời Phục Hy và Thần Nông, mỗi thời kỳ đều có nhiều vị đứng đầu cùng tên nối tiếp nhau.
Tiếp đến thời Hùng Vương cũng thế: Thời Hùng Vương thứ nhất hay thứ hai, thứ ba... cho đến thứ 18, mỗi đời đều gồm nhiều vị vua Hùng. Thời gian như thế mới phù hợp với nhiều hiện tượng lịch sử liên quan đến dân tộc Việt cổ mà các sử gia Trung Quốc sau này cũng đã ghi.
Nước Văn Lang được thành lập dưới thời Kinh Dương Vương chắc chắn là vào thời kỳ nền nông nghiệp đã phát triển khá mạnh vì thời đó đã có nền lịch toán vững chắc để phục vụ nghề nông.
Tuy nhiên, đất nước rộng lớn của cư dân Bách Việt xưa - từ khi lập nước - đã liên tục suốt hàng ngàn năm bị dân du mục Hán - Mông thiện chiến, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, ở phía Bắc sông Hoàng Hà xâm chiếm và bị thu hẹp cho đến khi chỉ còn lại phần đất phía Nam bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và đồng bằng Bắc bộ cho đến Đèo Ngang xưa và cả vùng đất còn lại này lại bị dân Hán - Mông đô hộ thêm một ngàn năm nữa.
Trong suốt nhiều ngàn năm liên tục bị đánh phá và bị đô hộ, nền văn hóa nông nghiệp xưa cũng bị xóa sạch vết tích. Tuy nhiên, những tinh hoa của nền văn hóa nông nghiệp đó thì không thể xóa hết và được kẻ xâm lược trị vì tiếp thu và biến thành nền văn hóa chính quốc. Nền văn hóa Khoa Đẩu xưa - mà lịch sử cổ còn ghi - cùng nền văn hóa kế thừa Khoa Đẩu là nền văn hóa Việt Nho cũng bị xóa bỏ. Phần tinh hoa không xóa nổi thì biến thành nền văn hóa Hán Nho của chính quốc.
Người Việt nghiên cứu Vũ trụ từ khi ra đời. Những cứ liệu còn ghi trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ lịch sử lâu đời của Việt Nam và chính người Việt là người có nhiều phát minh vĩ đại: Nghiên cứu vũ trụ, lịch số... trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. Cổ sử Trung Quốc viết: "Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN - tức trước khi nước Trung Hoa ra đời rất lâu; sau khi nước Văn Lang được thành lập 522 năm), có sứ giả Việt Thường (1) đến Kinh đô tại Bình Dương (phía Bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng hai con Thần Quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau...".
Vua Nghiêu sai người chép lại và lưu vào "tàng thư" gọi là "Lịch Rùa" (2). Sách "Thông Chí" của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ về việc Thị tộc Việt Thường tặng lịch Rùa cho vua Nghiêu. Nếu tính từ năm thành lập nước Văn Lang đến nay thì lịch rùa chắc chắn cũng đã có từ gần 5.000 năm trước. Tại sao vào thời xa xưa đó mà người Việt Thường lại có thể giải thích được "việc trời đất từ khi mới mở đến sau này"? Rõ ràng họ đã có một nền văn minh "lịch toán" rất phát triển. Vì sao? Vì đó là yêu cầu của nền nông nghiệp đã được hình thành từ lâu đời (nghề canh tác lúa nước). Để dự báo thời tiết cho nông nghiệp bắt buộc họ phải phát triển lịch toán.
Và cơ sở của "Lịch Toán" này chắc chắn đã được khắc trên mai rùa đem sang tặng vua Nghiêu để cầu bang giao. Vì thế mà cổ sử Trung Quốc mới ghi lại là "... trên lưng rùa khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc trời đất từ khi mới mở trở về sau này". Như vậy là người Việt Thường đã nghiên cứu vũ trụ rất sớm, đã đi sâu tìm hiểu vũ trụ từ khi mới sinh thành và đã đem những hiểu biết đó để làm lịch phục vụ nông nghiệp.
_________________
Chú thích:
(1) Việt Thường: Ngay tên Việt Thường mà thời vua Nghiêu gọi tên nước Văn Lang xưa cũng thể hiện "dân tộc trồng lúa nước". Theo cụ Nguyễn văn Tố (trong Sử ta so với sử Tầu) thì Việt Thường là tên để chỉ cái "xiêm" của người Việt cổ trồng lúa nước, vì chưa có bang giao, người Tầu xưa (dân Hán - Mông) chưa hiểu rõ nên gọi luôn tên dân mặc "xiêm" là tên nước. Tên Việt Thường xuất hiện từ đó. Về sau khi đã có chữ viết, các nhà chép sử buổi sơ khai cứ theo cách gọi cũ ghi tên Việt Thường để chỉ vùng đất phát triển nhất của dân Bách Việt.
(2) Lịch rùa: Lịch đã được khắc trên mai rùa mang sang cống vua Nghiêu chỉ có thể là hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư - cơ sở của Lịch toán xưa - mà sau này người Trung Quốc đã đổi tên gọi là Hà Đồ và Lạc Thư cho hợp với sự giải thích hoang đường và thần bí của họ. Hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư chính là cơ sở của Lịch Toán Can Chi đã được hình thành từ thời cổ đại và đã được sử dụng trong các nước Á Đông cho đến tận ngày nay.

GS.TSKH Hoàng Tuấn

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận