Tục thờ ông bà vùng châu thổ phương Nam - Vĩnh Thông

02/04/2016
Tục thờ cúng tổ tiên từ ngàn đời nay đã trở thành một tập quán tốt đẹp của người Việt. Dân ta quan niệm ông bà đã khuất vẫn luôn âm thầm theo dõi và phù hộ con cháu trong công việc, chính vì thế việc con cháu tôn kính ông bà hiện tiền lẫn những người đã quá vãng được xem là một chuẩn mực đạo đức căn bản trong cung cách làm người. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ xin chia sẻ đôi nét về tục thờ cúng tổ tiên của người Nam bộ. Và, cũng xin phép gọi theo cách dân dã và gần gũi của người miền Nam là “thờ cúng ông bà”.
Từ khi những bước chân đầu tiên vào khai phá vùng Cửu Long giang, những người lưu dân đã mang theo cả một kho tàng luân lý, đạo đức vốn đã được kết tinh từ nhiều đời trên đất nước Đại Việt xưa. Đó cũng là nền văn hóa có sự kết hợp giữa Tam giáo: Phật - Lão - Nho và trên hết vẫn là truyền thống “Hiếu hạnh vi tiên” không chỉ là quan điểm lớn của ba tôn giáo mà còn là tư tưởng quan trọng của người Việt. Theo quan niệm phương Đông “dương gian âm cảnh đồng quy nhứt lý” (cõi dương và cõi âm cùng giống nhau về lý lẽ) đồng bào miền Nam đã khái quát một cách ngắn gọn, dễ hiểu “sự mất cũng như sự tồn”.
Ông bà đã mất nhưng vẫn là điểm tựa tinh thần lớn cho thế hệ hiện còn đang sống. Nguyễn Đình Chiểu viết: “Thà đui mà giữ đạo nhà / Còn hơn có mắt ông cha không thờ”. Ðạo nhà là đạo thờ kính ông bà tổ tiên, lại không đơn thuần là một thứ tôn giáo mà là một tập tục tín ngưỡng, một loại hình sinh hoạt tâm linh phi giáo điều, giáo lý. Đạo nhà cũng không có sự ràng buộc về hình thức, trái lại tùy vào từng gia đình, từng địa phương có cách thể hiện lòng kính ngưỡng của mình đối với ông bà cũng khác nhau. Đạo nhà “phi vật chất” nên dù giàu nghèo sang hèn đều có thể thể hiện đạo nhà theo cách riêng của mình, miễn là với lòng thành kính trang nghiêm.
Đạo Phật là tôn giáo có tầm ảnh hưởng quan trọng đến văn hóa Việt Nam, cũng là tôn giáo coi trọng chữ hiếu, nên đạo Phật đã đi vào tâm thức người Việt rất sâu đậm. Sự sáng tạo của dân ta được thể hiện qua hình thức thờ cúng kết hợp giữa Đức Phật và tổ tiên, có từ rất lâu đời. Chúng ta có thể thấy rõ điều nầy qua việc đặt bàn thờ “hiền Phật hậu Linh”, “thượng Phật hạ Linh” tức là bàn thờ gia tiên được đặt trước, phía dưới hoặc bên cạnh bàn thờ Phật. Nghi thức lễ bái hằng ngày bao gồm vừa cúng Phật, vừa cúng gia tiên. Những ngày lễ của đạo Phật, bàn thờ gia tiên vẫn được trang hoàn, và ngược lại những ngày lễ của dòng tộc, bàn thờ Phật cũng khói hương vẫn nghi ngút.
Cuối thế kỷ XIX, tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa ra đời ở vùng biên giới Tây Nam đồng bằng, nêu ra Tứ Ân được xem như tôn chỉ của đạo, gồm: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Trong đó, ân tổ tiên được đưa lên hàng đầu cũng đủ minh chứng được tầm quan trọng của của việc thờ kính ông bà trong giáo lý của tôn giáo nội sinh ở vùng đất nầy. Đức Bổn Sư Ngô Lợi - người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, cũng đã gọi tôn giáo mình là “đạo ông bà” - một cách gọi giản dị mà đầy ý nghĩa.
Về việc thờ cúng ông bà của người miền Nam, hằng năm cứ đến ngày mất của ông bà thì cả gia đình lại tổ chức đám giỗ - một sinh hoạt tinh thần cực kỳ quan trọng của gia đình, dòng tộc. Đám giỗ xem như hình thức kỷ niệm và tri ân của con cháu với ông bà đã quá vãng, cầu xin ông bà phù hộ cho con cháu, và cuối cùng là bữa tiệc ấm cúng của gia đình. Đây là dịp để dòng họ tề tựu kể cho nhau nghe chuyện mùa màng, công việc. Ngoài ra cũng có sự có mặt của láng giềng, chòm xóm, thân hữu để thắt chặt thêm tình cảm.
Theo Sơn Nam, đám giỗ ở miền Nam thường phải có bốn món cơ bản là hầm, luộc, xào, kho. Hầm là canh thịt hầm, có thể là khổ qua hoặc măng. Món luộc vào món xào có nhiều cách chế biến, có khi là thịt luộc trọn gỏi, cuốn bánh tráng, xào rau đậu… Riêng món kho thì luôn luôn phải là thịt kho rệu (hay còn gọi thịt kho tàu) - món ăn đặc trưng không thể thiếu. Bánh tét được xem là loại bánh thiêng, bánh của nghi lễ, nên người miền Nam ngày xưa không gói bánh tét một cách tùy tiện, ngẫu hứng, mà chỉ đợi đến dịp đám giỗ và Tết.
Ngày Tết là ngày quan trọng nhứt trong năm, theo tục lệ cổ truyền thì vào ngày 30 nhà nhà rước ông bà về ăn Tết với gia đình mình. Các gia đình trang hoàn nhà cửa, mua sắm, chuẩn bị thức ăn, đồ cúng từ rất sớm. Những ngày đầu tiên của năm mới cũng là lúc con cháu tề tựu, quay quần bên ông bà, làm lễ cúng tổ tiên. Dầu nhà nghèo cũng phải cố gắng nấu bữa cơm để đâng cúng vào mùng một Tết, đơn giản nhưng thành kính.
Ở miền Nam thường không có từ đường hoặc nhà họ, nhà tổ… nên địa điểm mà gia đình chọn để sum vầy chính là nhà của ông bà nội, ông bà ngoại, cha mẹ, là những người đã có công gầy dựng và duy trì và phát triển gia đình. Đôi khi là nhà của người anh lớn hoặc em út trong trường hợp ông bà cha mẹ đã quá vãng. Tết là ngày mà con cháu dầu làm ăn xa cách mấy cũng phải trở về, trước thắp nén nhang trước bàn thờ ông bà, sau là thăm hỏi nhau sau một năm. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và sự phát triển của xã hội hiện đại, lắm khi con cháu đánh mất phong tục tốt đẹp nầy.
Chịu ảnh hưởng văn hóa người Hoa cộng cư trên vùng đất mới, nhiều gia đình người Việt ở Nam bộ cũng tổ chức lễ Thanh minh khá trang trọng. Cũng như đám giỗ, Thanh minh được tổ chức thế nào, cúng món gì, tùy hoàn cảnh gia đình. Nhưng những công việc mang tính “quy tắc” thường phải có là dọn cỏ khu mộ, quét vôi hoặc sơn phết ngôi mộ, dùng những tờ giấy màu cắm lên phần đất trên nấm mộ… Người Việt không có nguyên tắc phân chia thời gian cúng theo thứ tự lớn nhỏ trong gia đình như người Hoa, mà anh em con cháu cùng ra mộ cúng cùng lúc. Cúng xong có gia đình mang về nhà ăn nhưng cũng có gia đình bày biện ăn tại mộ, khiến ngày lễ Thanh minh thêm phần màu sắc, nhộn nhịp.
Ngoài ra, khi trong gia đình, dòng họ có việc gì hệ trọng, gặp sự cố hay có người đau ốm… con cháu thường cầu xin ông bà để được phù hộ. Dù cho có bất cứ tôn giáo, triết lý nào cao siêu đến đâu cũng không thể làm cho người ta bỏ quên tổ tiên được. Chiến thắng quân Minh là chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, của toàn dân tộc Việt, nhưng trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi đã khiêm tốn: “Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng phò hộ mới được như vậy”. Không thấy một dòng nào khen vua giỏi, tướng tài. Nhưng vua cũng nào có trách, thậm chí có thể còn hài lòng với cách nói như vậy, vì tư tưởng đó đã đi vào tâm thức mỗi người Việt, từ bậc đế vương đến thứ dân.
Thiết nghĩ, gia đình là một gốc cổ thụ sùm suề, nơi gieo trồng và nuôi dưỡng hạt giống văn hóa dân tộc, là cội nguồn của con người. Nếu ông bà ta đã từng nói “giấy rách phải giữ lấy lề” thì cái truyền thống gia đình chính là cái “lề” ấy. Chính vì thế, truyền thống gia đình nói chung và phong tục thờ kính ông bà nói riêng là một nét đẹp, giá trí tư tưởng lớn của dân tộc. Ngày nay, dù sự hội nhập cùng nhiều nền văn hóa - nhứt là văn hóa phương Tây diễn ra mạnh mẽ, tuy nhiên truyền thống nầy vẫn không ngừng được duy trì và phát triển. “Chữ rằng: vấn tổ tầm tông / Cháu con nỡ bỏ cha ông sao đành (Ca dao).

VĨNH THÔNG


© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận