Lịch pháp uyên thâm của người Á Đông - Vĩnh Thông

15/03/2016
Nói về những hệ thống lịch pháp đang được sử dụng ở Việt Nam, chúng ta vẫn quen với cách gọi bình dân và thân thương là lịch Tâylịch ta để chỉ dương lịch của người phương Tây và âm lịch trong truyền thống Á Đông. Ngày nay lịch Tây được sử dụng chính thức về mặt hành chánh trên khắp thế giới, trong khi đó lịch ta chỉ được một bộ phận cư dân sử dụng (người già, người nông thôn…) gắn với một số mục đích nhứt định (mùa màng, cúng bái…). Điều nầy khiến giới trẻ đa phần có ý nghĩ xem thường lịch ta vì cho rằng nó lạc hậu.
Song có lẽ ít ai ngờ rằng, lịch ta là một phát minh vĩ đại của người Á Đông và có thể xem là thứ lịch chuẩn xác cao trên thế giới hiện nay. Hệ thống lịch pháp nầy đã khiến khoa học hiện đại phương Tây phải trầm trồ, kinh ngạc. Nhà thiên văn học Léopold de Saussure (Pháp) gọi đó là “nền lịch pháp thâm sâu nhất nhân loại”.
1. Lịch âm, lịch dương và lịch âm dương:
Trước tiên, cần phải phân biệt cách gọi tên các hệ thống lịch pháp. Người Việt thường quan niệm: âm lịch của phương Đông tính theo mặt trăng, dương lịch của phương Tây tính theo mặt trời. Song, cách gọi đó chưa chính xác, mà thực tế là:
- Âm lịch: Loại lịch do người Sumer ở Lưỡng Hà cổ đại (Tigris và Euphrates) tính theo chu kỳ mặt trăng. Một năm có 6 tháng đủ (30 ngày) và 6 tháng thiếu (29 ngày) tổng cộng 354 ngày.
- Dương lịch: Loại lịch do cư dân Ai Cập cổ đại ở khu vực sông Nile tính theo chu kỳ mặt trời. Mỗi năm chia làm 12 tháng, trung bình mỗi tháng có 29,53 ngày, tổng cộng mỗi năm có 365,25 ngày.
- Lịch âm dương: Lịch của cư dân Bách Việt vùng Đông Nam Á cổ đại, hình thành dựa trên tổng hợp của cả quy luật của mặt trăng lẫn mặt trời. Như vậy, lịch ta mà người Việt đang sử dụng là loại lịch âm dương.
2. Đặc điểm của lịch âm dương:
Nếu tính theo chu kỳ mặt trăng, mỗi tháng có hai dấu mốc quan trọng: ngày trăng khuyết đầu tháng gọi là sóc và ngày trăng tròn giữa tháng gọi là vọng. Nếu tính theo chu kỳ mặt trời, mỗi năm có 24 tiết gồm: Lập Xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập Hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập Thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập Đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn. Quy ước mỗi khí bằng 3 hậu, mỗi hậu có 5 ngày, nên mỗi tiết là 15 ngày, cứ 3 năm sẽ có 1 tháng nhuận. Sự thú vị của loại lịch nầy còn ở chỗ, nếu tháng được tính theo chu kỳ mặt trăng thì các tiết lại được tính theo chu kỳ mặt trời bằng ngày dương lịch.
Trước nay nhiều người vẫn xem hệ thống lịch pháp nầy là lịch Trung Quốc, điều đó đồng nghĩa nghiễm nhiên thừa nhận chủ nhân của lịch nầy là người Trung Quốc cổ đại. Thậm chí, người Trung Quốc còn dựng nên truyền thuyết rằng Hoàng Đế đặt ra lịch. Song, lịch âm dương thực chất là sản phẩm tổng hợp của cư dân Bách Việt vùng Đông Nam Á, trong đó có người Lạc Việt chúng ta.
Vùng Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những cái nôi nông nghiệp lúa nước của nhân loại. Vì thế dân Bách Việt ở đây là những tộc người gắn liền với hoạt động nông nghiệp, văn hóa nông nghiệp và tư duy nông nghiệp. Cách tính trong hệ thống lịch âm dương liên quan chặt chẽ với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thậm chí lịch nầy còn có tên gọi khác là Nông lịch, điều đó đã biểu hiện tư duy nông nghiệp của chủ nhân lịch pháp nầy.
Trong khi đó, nguồn gốc tổ tiên người Hán là ở khu vực trung lưu sông Hoàng Hà, với đặc điểm thời tiết giá rét và đất đai khô cằn, không thích hợp cho hoạt động nông nghiệp, nên văn hóa người Hán cổ đại gắn liền với hoạt động chăn nuôi du mục. Khi bành trướng về phía Nam, họ va chạm với nền văn hóa nông nghiệp phương Nam và đã tiếp thu những thành tựu của cư dân Bách Việt vùng Lĩnh Nam, trong đó có hệ thống lịch pháp.
Lịch âm dương của người Bách Việt cổ đại là loại lịch “kiến Tý” tức lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, tương đương với tháng 11 hiện nay. Vì vậy bấy giờ người ta gọi tháng nầy là tháng Một (Một, Chạp, Giêng, Hai…). Đến thời nhà Hán, người Trung Quốc đổi lại tháng Dần là tháng đầu năm, tức tháng Giêng. Điều nầy đến thời kỳ Bắc thuộc lại ảnh hưởng ngược trở lại người Việt và tồn tại đến nay. Có thể thấy qua ca dao:
Tháng Giêng ăn Tết ở nhà
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè
Tháng Tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm
Tháng Sáu buôn nhãn, bán trâm
Tháng Bảy hôm Rằm, xá tội vong nhân
Tháng Tám chơi đèn kéo quân
Trở về tháng Chín chung chân buôn hồng
Tháng Mười buôn thóc, bán bông
Tháng Một, tháng Chạp nên công hoàn thành
”.
3. Tính khoa học trong lịch âm dương:
Về độ chính xác, các nhà thiên văn học hiện đại cho rằng sau thời gian khoảng 3 năm âm lịch (khoảng 1062 ngày) vị trí của Trái Đất ở thời điểm hiện tại sẽ lệch so với vị trí ban đầu. Vì vậy Trái Đất phải quay thêm khoảng thời gian gần bằng 1 tháng nữa thì mới trở về vị trí ban đầu. Như vậy, quy ước 3 năm nhuận 1 tháng của lịch âm dương là chính xác với vòng quay Trái Đất.
Về ứng dụng, nếu xét theo chu kỳ mặt trời thì lịch nầy có thể phản ánh chính xác được thời tiết và mùa vụ (có thể thấy qua tên gọi 24 tiết). Nếu xét theo chu kỳ mặt trăng, nó có thể tính được chế độ nước của sông, chu kỳ sinh nở của côn trùng, chu kỳ tâm lý của con người, chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ… đó là những điều mà dương lịch của phương Tây không thể làm được.
Thế nên, tìm hiểu về lịch âm dương để thấy rằng đây là phát minh vĩ đại trong lịch sử phương Đông và thế giới, mang tính khoa học cao và tính ứng dụng thực tiễn phong phú. Từ đó, trân trọng thành quả sáng tạo của cư dân Việt cổ, xóa bỏ tự ti mặc cảm vốn không chính xác về một thứ lịch bị giới trẻ cho là “lạc hậu”.

VĨNH THÔNG
(bài đăng tạp chí Thế giới trong ta)
_____________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trần Long (2015), Bài giảng Cơ sở văn hóa Việt Nam, ĐH KHXH & NV.
2. Vũ Dương Ninh chủ biên (2005), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục.
3. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam (tái bản), Nxb Giáo dục.
4. Nguyễn Ngọc Thơ (2011), Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền thống ở Việt Nam, luận án tiến sĩ Văn hóa học, ĐH KHXH & NV.

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận