Bảo vật quốc gia trong lăng Thoại Ngọc Hầu - Lương Chánh Tòng

28/11/2015
Tháng 9.2010, sau kỷ niệm 180 năm ngày mất của danh tướng Thoại Ngọc Hầu (1761 - 1829), Ban quản trị Lăng Miếu - Núi Sam (miếu Bà Chúa Xứ - Châu Đốc) thực hiện việc trùng tu, tôn tạo quần thể di tích lăng Thoại Ngọc Hầu.
Trong quá trình tôn tạo sân nền khu lăng mộ, những người thi công đã làm sụp tấm đan, xuất lộ hai kim tĩnh đặt hai bên mộ ông Thoại Ngọc Hầu và mộ bà Chính thất phu nhân Châu Thị Tế. Thông tin lập tức được cấp báo cho Sở VH-TT-DL tỉnh An Giang. Được sự chỉ đạo của cấp trên, Bảo tàng An Giang đã thực hiện việc khai quật khẩn cấp để xử lý những phát lộ này.
Kinh ngạc
Khi lớp cát vàng được làm sạch, những người tham gia khai quật đã kinh ngạc trước một kho báu đồ sộ đầy ắp những di vật quý đặt trong hai kim tĩnh. Tháng 12.2010, tỉnh An Giang thành lập hội đồng giám định hiện vật để nhận diện, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa của khối kho báu đồ sộ này, với sự tham gia của các nhà khảo cổ học, sử học hàng đầu ở phía nam.
Tiến sĩ Phạm Hữu Công, Thư ký Hội đồng Khoa học giám định, cho biết qua nhiều ngày làm việc căng thẳng, nghiêm túc và thận trọng, Hội đồng Khoa học giám định đã thảo luận và đi đến thống nhất nhận định: Đây là bộ sưu tập đồ tùy táng của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1761 - 1829) - quan Khâm sai Thống chế, Án thủ Châu Đốc kiêm quản Hà Tiên trấn, bảo hộ Cao Miên và phu nhân Châu Thị Tế (1766 - 1826).
Bộ sưu tập bao gồm những đồ vật của hai ông bà sử dụng trong những dịp lễ triều như: mão bằng vàng và những vật sử dụng hằng ngày rất phong phú của VN, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia cho tới châu Âu như các loại đồng tiền bằng vàng, bạc, các loại đồ gốm: bát, muỗng, đĩa, thố, ống nhổ, bình rót...; đồ thủy tinh như: kính đeo mắt, bình, ly chân cao, lọ hít...; đồ đồng gồm: đồng chạm, đồng tam khí, pháp lam (đồng tráng men); antimol như: nồi, mâm, ấm, chân đèn, hộp đựng nữ trang, ô trầu, chảo, khay, chậu (thau), mâm bồng, đĩa chân cao, ống điếu, lệnh bài...; đồ bạc như: muỗng, hộp...; và những tàn tích của những chiếc hộp gỗ, rương gỗ...
Bộ sưu tập bao gồm nhiều hiện vật quý hiếm trong đó có những hiện vật thuộc diện bảo vật quốc gia như chiếc mão vàng, thỏi, hộp vàng, đồng tam khí...; nhiều hiện vật được xác định là của vua Gia Long - Minh Mệnh ban tặng cho cả hai ông bà như đã từng ban tên núi, tên sông - kênh lớn của đất nước, được khắc trên Cửu Đỉnh - bảo vật quốc gia đặt tại Tử cấm thành ở Huế (kênh Vĩnh Tế) sông Thoại Hà, Thoại Giang, núi Thoại Sơn, đình Thoại Sơn..., xã Vĩnh Tế, Vĩnh Xuân... có giá trị cao về lịch sử văn hóa, thẩm mỹ, khắc họa rõ nét sinh hoạt của tầng lớp quan lại cao cấp thời kỳ đầu triều Nguyễn tại vùng đất cực Nam Tổ quốc, góp phần bổ sung những phần khuyết thiếu trong việc nhận thức về cổ vật thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
Phục nguyên hiện vật
Xác định đây là một kho báu duy nhất hiện biết ở VN được tìm thấy trong lòng đất gắn liền với một nhân vật lịch sử có công lớn lao ở Nam bộ nói riêng và cả lịch sử VN nói chung, các nhà khoa học đã đề nghị các cấp quản lý cần có kế hoạch nghiên cứu, bảo quản, phục nguyên và trưng bày bộ sưu tập trên (đặc biệt là phục dựng chiếc mão vàng). Hiện nay, dự án Nhà trưng bày Thoại Ngọc Hầu đã được Bộ VH-TT-DL cùng nhiều cơ quan chức năng phê duyệt, thực hiện.
Điều đáng chú ý là hình thức chôn cất kho báu này cho thấy, một hình thức táng tục không chỉ chôn đồ theo đồ tùy táng - là những bảo vật được vua ban tặng, tài sản và vật dụng gắn với cuộc sống sinh hoạt thường nhật của thống chế và phu nhân, mà còn có hình thức tạo hầm kho chứa của riêng bên cạnh mộ để làm tài sản mang theo về với “thế giới bên kia” của cõi vĩnh hằng.
Đồ pha lê lần đầu tìm thấy ở VN
Đây là những hiện vật pha lê lần đầu tiên tìm thấy ở VN được làm rõ nguồn gốc xuất xứ, niên đại chuẩn, thuộc loại hình đồ gia dụng: tô bát, thố, đĩa, bình rượu, lọ nước hoa, dầu thơm, dầu gió, lọ hít thuốc... với nhiều màu sắc: trắng, xanh, tím biếc... Nhiều hiện vật khắc mài đề tài hoa lá, dát vàng hoa văn rất tinh xảo, màu sắc, độ trong và bóng không khác xa so với các sản phẩm thủy tinh pha lê hiện nay. Nhiều nhà khoa học đánh giá đây là những sản phẩm cao cấp nhất của đồ thủy tinh pha lê châu Âu đương thời. Nhóm hiện vật thủy tinh pha lê tìm thấy trong khu lăng Thoại Ngọc Hầu hiện nay được coi là quý hiếm và chứa đựng rất nhiều giá trị về lịch sử văn hóa.
Niên đại của nhóm di vật này được xác định muộn nhất là năm 1829 - năm mất của Thoại Ngọc Hầu. Do tính chất vật lý, vật liệu thủy tinh pha lê rất mong manh, dễ nứt vỡ do ngoại lực tác động trong quá trình sử dụng, nên cho đến nay, việc tồn tại các loại hình cổ vật thủy tinh pha lê giai đoạn thế kỷ 17 - 19 là rất ít. Vì thế trước đây, đại đa số nghiên cứu khi tiếp cận các di vật thủy tinh pha lê đều né tránh, hoặc giám định, định niên đại một cách tương đối mơ hồ: xếp chung niên đại của các đồ thủy tinh vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 và xác định nguồn gốc của chúng là từ sau khi Pháp xâm lược VN (1858).
Sự xuất hiện đồ thủy tinh ở VN vào giai đoạn thế kỷ 18 lần đầu tiên được sử liệu ghi chép qua tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ các quốc gia châu Âu, theo chân các nhà truyền giáo và các nhà ngoại thương, đặc biệt là các công ty Đông Ấn châu Âu đem đến
Đàng Trong thời chúa Nguyễn và phổ biến ở thời Nguyễn. Thậm chí, những sản phẩm thủy tinh pha lê dưới thời Nguyễn ở VN một số còn được coi là đồ thượng phương. Tháng 6.1824, Tổng trấn Lê Văn Duyệt khi trên đường trở về Gia Định, vua Minh Mạng sai Trung sứ mang cho một cái ống điếu bằng pha lê màu biếc bịt vàng là đồ thượng phương.
TS Phạm Hữu Công - Thư ký Hội đồng Khoa học giám định - cho biết nhiều hiện vật có màu sắc và kỹ thuật tạo dáng giống với những vật phẩm thủy tinh pha lê đã được chính sử triều Nguyễn ghi chép liên quan đến việc vua Minh Mạng dâng tặng thái hậu, ban tặng cho công chúa, các quan lại đại thần và những vật phẩm bang giao. Các hiện vật pha lê thủy tinh trong khu lăng Thoại Ngọc Hầu cho thấy đời sống sinh hoạt của gia đình danh tướng nơi biên viễn và đặc biệt là nguồn gốc xuất xứ của chúng đã góp phần xác nhận sản phẩm giao thương của cảng thị Hà Tiên trong thời gian dài ông Kiêm quản trấn thủ. Điều này đã góp thêm một nguồn sử liệu vật chất quan trọng trong việc nghiên cứu và làm rõ những hoạt động của cảng thị Hà Tiên trong lịch sử - một cảng thị nổi tiếng ở khu vực châu Á thế kỷ 17 - 19.
Những đồng tiền quý của châu Âu
Bên cạnh những di vật pha lê thủy tinh có nguồn gốc từ châu Âu tìm thấy trong lăng Thoại Ngọc Hầu, còn có những đồng tiền quý của các công ty Đông Ấn châu Âu rất quý hiếm trên thế giới.
20 đồng bạc Tây Ban Nha hình tròn dẹp bằng bạc có chữ Latin và các hình chạm trên cả 2 mặt. Đường kính: từ 3,5 - 3,8 cm. Dày: 0,1 - 0,2 cm. Loại này cũng được phân chia bằng nhau: bà và ông mỗi người sở hữu 10 đồng. Niên đại của các đồng này ghi trên mặt các đồng tiền gồm những năm trong thời kỳ trị vì của 4 vị vua Tây Ban Nha là: Ferdinand đệ Lục (trị vì 1747 - 1759), Charles đệ Tam (1760 - 1778), Charles đệ Tứ (1797 - 1799), Joseph (1812). Các đồng tiền này được cho là lưu thông trên toàn thế giới vào thời bấy giờ.
Trong di vật của Chính thất phu nhân Châu Thị Tế có 2 đồng tiền vàng Bồ Đào Nha đường kính 2,9 cm, dày 0,25 cm. Vòng ngoài rìa có hàng chữ nữ hoàng Bồ Đào Nha Joannes. Trong là hình nữ hoàng nhìn nghiêng. Mặt lưng hình quốc huy Bồ Đào Nha với vương miện trên khiên tròn xung quanh là hoa lá dây. Đồng vàng này được phát hành tại Lisbon. Chưa biết được tại sao 2 đồng tiền vàng này lại là sở hữu của gia đình Thoại Ngọc Hầu mà chỉ có trong di vật của bà bên phía ông hoàn toàn không có. Có thể là một phái đoàn Bồ Đào Nha nào đó đã ghé thăm gia đình quan Án thủ Châu Đốc - Kiêm quản trấn cảng Hà Tiên và tặng 2 đồng vàng này.
TS Phạm Hữu Công xác định: Bộ sưu tập tiền của ông bà Thoại Ngọc Hầu để lại hầu như hoàn toàn trùng lắp với một số phát hiện khảo cổ gần đây tại Nam bộ, điển hình là Tiền Giang và Kiên Giang. Điều đó chứng tỏ có sự giao lưu hoặc buôn bán thương mại giữa cư dân Nam bộ với châu Âu hoặc Công ty Đông Ấn châu Âu thông qua các cơ sở ở Ấn Độ và vai trò của quan Án thủ Châu Đốc Thoại Ngọc Hầu có thể là khá tích cực. Tuy nhiên sau khi Thoại Ngọc Hầu mất vào năm 1829 không có hoạt động ngoại thương nào được ghi nhận, có lẽ chính sách “bế quan tỏa cảng” của thời Minh Mạng đã tác động mạnh mẽ, dập tắt đi những mầm chồi mới nở đó.
Cho đến nay về khảo cổ học tuy chưa có ghi nhận cụ thể về việc tàu thuyền hoặc thương nhân thuộc Công ty Đông Ấn châu Âu đã từng đến Nam bộ và cũng chưa tìm ra địa điểm giao dịch trao đổi hàng hóa ở Nam bộ thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 nhưng loại tiền nói trên là dữ liệu quý báu để có thể tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.
Gốm sứ Trung Quốc
Gốm sứ có số lượng lớn, chủ yếu là loại đồ dùng trong ẩm thực khá đa dạng từ màu men, kiểu dáng, hoa văn trang trí cho đến loại hình, xuất phát từ nhiều trung tâm sản xuất nổi tiếng của Trung Quốc từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.
Gốm sứ do Cảnh Đức trấn sản xuất bao gồm các vật dụng: muỗng hình xuồng vẽ loan phượng, sen liễu, hoa mai; đĩa vẽ hoa lá dây, bát vẽ hoa lá dây, lân hí cầu, giáo tử, cúc, phượng, trúc bướm, dơi, ong, chim phi minh túc thực (bay, hót, bái, ăn), phong cảnh; thố (tiềm) có nắp vẽ hoa dây… Gốm sứ do tỉnh Phúc Kiến sản xuất là loại chung uống trà hoặc uống rượu men trắng. Ấm trà đất nung do tỉnh Giang Tô sản xuất… Ngoài ra còn có gốm của nhà thuốc Đồng Nhân Đường (Bắc Kinh), loại lọ hít men trắng viết chữ Hán xanh.
Ông bà Thoại Ngọc Hầu có đầy đủ các vật dùng cho sinh hoạt đời thường trong mộ, trong đó nhiều nhất là đồ dùng cho việc ăn trầu và uống trà, tuy nhiên số lượng phần ăn trầu thì bà nhỉnh hơn (18/10), uống rượu ông nhỉnh hơn (19/14), nhưng có 1 chai rượu Tây duy nhất thì nó lại nằm bên phía mộ bà. Đồ dùng uống trà ông bà bằng nhau về số lượng nhưng ông lại hơn 1 cái ấm đất nung…
Quý kim của gia đình thống chế
Trong mộ ông, những người khai quật phát hiện 5 thoi bạc, mỗi thoi nặng 10 lạng, 5 thoi bạc nặng 1 lạng/thoi, 2 thoi vàng, mỗi thoi nặng 10 lạng. Phần mộ bà có 10 thoi bạc, mỗi thoi nặng 10 lạng, 33 thoi bạc nặng từ 1/4 lạng, nửa lạng đến 1 lạng, 2 thoi vàng, mỗi thoi nặng 10 lạng. Tiền vàng và bạc trong di vật của Thoại Ngọc Hầu và phu nhân có giá trị khá lớn.
Theo quy luật thì đồ tùy táng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tài sản thực có, vì vậy có thể dự đoán là Thoại Ngọc Hầu còn để lại cho con cháu một số lượng tài sản đáng kể. Đây là lần đầu tiên ở VN phát hiện một khối lượng đồ tùy táng bằng vàng bạc lớn như vậy. Cuộc khai quật đã thu được kết quả về giá trị kinh tế của cổ vật bằng vàng bạc, vừa quý giá về khối lượng quý kim, vừa quý giá về loại hình mà từ trước đến nay chưa có ai biết đến, chưa có ai công bố và trong thực tế chưa từng xuất hiện trên thị trường cổ vật. Đáng chú ý là những thoi bạc nhỏ 1/4 lạng, nửa lạng lại đóng dấu niên hiệu vua Nguyễn, còn các thoi lớn có giá trị 5 lạng, 10 lạng lại không có niên hiệu.
4 thoi vàng di vật của Thoại Ngọc Hầu và phu nhân đã mô tả trên không có những dấu hiệu như những thoi vàng thời Minh Mạng nên có thể không được đúc vào đầu thời Nguyễn, về kích thước hơi khác nhau: thỏi vàng của ông bà Thoại Ngọc Hầu dài hơn nhưng ốm hơn, vì vậy hình dạng rất khác nhau, có khả năng nó không được đúc bởi triều Nguyễn mà có niên đại sớm hơn khoảng giữa thế kỷ 18.
Trong phần mộ của ông cũng có một số đồ trang sức cá nhân bằng vàng: một đôi bông tai cuống hình chữ S duỗi, mặt là một gương sen kết từ những sợi vàng mỏng manh, trông rất duyên dáng. Đây là loại vàng 7 tuổi rưỡi. Ông còn được sở hữu 4 chiếc vòng tay bằng vàng trơn mặt cắt tròn, trên thân vòng có khía mỏng, được chia thành hai cặp, mỗi cặp có đường kính lần lượt: 6,5 cm và 6,8 cm. Có lẽ đây là kỷ vật của 2 người vợ mà ông đã lưu giữ: bà thứ Trương Thị Miệt và bà chánh Châu Thị Tế.
Bà Châu Thị Tế không chỉ có trang sức cá nhân nhiều hơn ông mà còn có những vật dụng bằng vàng khác. Về trang sức trên người, bà sở hữu 6 chiếc nhẫn vàng cẩn đá quý chế tác cực kỳ tinh xảo, đều là vàng 9 tuổi. Một cặp vòng tay bằng vàng, 2 cặp bông tai, bộ trâm cài đầu 10 cái, đầu trâm làm bằng vàng 8 tuổi, cây gài bằng bạc trong đó có 4 chiếc đã mất cây gài chỉ còn lại phần đầu.
Theo nhà kim hoàn Vũ Kim Lộc thì đây là bộ trang sức rất độc đáo còn khá nguyên vẹn, mang đậm ảnh hưởng kiểu chế tác của thời các chúa Nguyễn và những nghệ nhân làm ra nó thuộc Nội Kim Tượng Cục tại kinh đô Huế. Bộ trang sức này có giá trị không những trong việc làm rõ phục sức của nữ quan quý tộc thời Nguyễn mà còn góp phần vào nghiên cứu lịch sử nghề kim hoàn cổ VN.
Vật phẩm bang giao
Nhóm di vật gồm các loại hình vàng, bạc, đá quý, gốm sứ, đồ đồng có nguồn gốc từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Campuchia.
Đây là những vật phẩm do Quốc vương Campuchia biếu tặng trong những lần Thoại Ngọc Hầu được giao nhiệm vụ làm Bảo hộ quốc gia hàng chục năm trời.
Nhiều hiện vật kim loại vàng, đá ngọc tìm thấy trong kho báu Thoại Ngọc Hầu tạo tác tinh xảo, đề tài và mô típ trang trí mang tính điển hình văn hóa của hai quốc gia Thái Lan và Campuchia. Nhiều di vật là độc bản, quý hiếm mà ngay cả một số bảo tàng lớn ở Thái Lan và Campuchia hiện nay cũng không có.
Trong số các di vật quý này, tiêu biểu có bình vôi hình tháp tròn bằng vàng do Campuchia chế tác và một con dao bằng ngà voi nạm vàng nhưng vì lưỡi dao bằng sắt nên đã bị mục nát. Bên mộ ông cũng có một bình vôi hình dạng và chiều cao tương tự nhưng bằng bạc.

Thống chế Thoại Ngọc Hầu (1761 - 1829) tên thật là Nguyễn Văn Thụy, quê quán tại P.An Hải, TP.Đà Nẵng ngày nay. Ngoài sự nghiệp lớn lao trong việc khai phá, đào sông, thu hút dân cư, lập ấp, phát triển sản xuất, thúc đẩy hoạt động giao thương, trấn giữ vùng đất Nam bộ, Thoại Ngọc Hầu cùng phu nhân Châu Thị Tế còn có nhiều hoạt động lớn lao, trong đó phải kể tới công lao vun đắp và phát triển tín ngưỡng thờ bà mẹ xứ sở - Bà Chúa Xứ - một di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Tổng thể khu lăng Thoại Ngọc Hầu được chính ông quy hoạch và xây dựng phía sau miếu Bà Chúa Xứ, trên sườn núi Sam ít nhất cũng là từ năm 1821 sau khi bà thứ của ông là Trương Thị Miệt qua đời được an táng nơi đây, tiếp đến ông an táng bà chính thất gắn bó với cuộc đời của mình từ thuở hàn vi Châu Thị Tế (năm 1826) và sau khi ông mất, người con trai tên Lâm cùng với thành thần Gia Định đã tổ chức an táng ông ở nơi đã được định vị quy hoạch.

LƯƠNG CHÁNH TÒNG

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận