Về Thới Sơn thăm di tích người xưa - Vĩnh Thông

31/05/2014
Làng Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ngày nay, là một trong những nơi còn lưu lại khá nhiều di tích liên quan đến công cuộc hành đạo và khai hoang của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương - một tôn giáo nội sinh đặc thù của An Giang và miền Nam. Nói đến Thới Sơn, người ta không chỉ nghĩ đến chốn hành hương của riêng của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, mà còn là điểm đến đầy thú vị của khách du lịch gần xa và cả giới nghiên cứu văn hóa lịch sử.
Quan sát bản đồ ta có thể dễ dàng nhận thấy, Thới Sơn là cửa ngỏ vào vùng Thất Sơn, cũng là tiền đồn án ngữ vùng biên cương nầy. Cả xưa và nay, Thới Sơn đều có một vị trí chiến lược trong nhiều lãnh vực: quân sự, kinh tế, văn hóa… Để đến được Thới Sơn, ta đi theo Quốc lộ 91 đến địa phận thị trấn Nhà Bàng, tiếp tục rẽ sang Tỉnh lộ 948 qua khỏi núi Két khoảng 1 km rồi rẽ trái sẽ lần lượt đến được các di tích như đình Thới Sơn, chùa Thới Sơn, chùa Phước Điền.
Thới Sơn xưa do Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên chủ trương cho tín đồ khai phá để canh tác và tu tập. Hai vị tiền bối có công lao lớn nhứt trong buổi đầu là ông Tăng Chủ tên thật Bùi Văn Thân và ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây. Có thuyết nói ông Tăng Chủ là bác ông Đình Tây, nhưng cũng có người cho rằng hai ông là anh em họ. Dầu thế nào đi nữa, đối với người đời nay, cả hai vị đều được kính trọng vì là những bậc đại đệ tử của Phật Thầy, đã có công dẫn dắt tín đồ khai khẩn và hình thành làng xóm.
Bửu Sơn Kỳ Hương là một tôn giáo bản địa khá đặc biệt. Người sáng lập đạo có tên là Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), sau xuất gia với pháp danh Minh Huyên - Pháp Tạng nên người đời sau gọi là Đoàn Minh Huyên. Ông là một cải cách tôn giáo và nhà dinh điền ở Nam kỳ thế kỷ XIX. Năm 1849, quanh vùng Hậu Giang xảy ra dịch bệnh, ông đi nhiều nơi trị bệnh cho dân và phổ truyền giáo lý, khuyên mọi người tu hành.
Đạo của ông dạy tín đồ Tứ ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Tu không coi trọng hình thức, không bày trí hình tượng mà chỉ thờ Trần điều (tấm vải đỏ) tượng trưng cho vô vi và thanh tịnh. Người tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương không xuất gia mà tu tại gia, cũng không tụng kinh gõ mõ, không ngồi chờ đắc đạo (xuất thế) mà phải làm lụng phục vụ cuộc sống vừa tạo tác phước điền (nhập thế). Ngoài ra, ông còn cùng các đệ tử khẩn hoang, lập xóm ấp cho người dân đến sống và canh tác. Người đời sau tôn xưng ông là Đức Phật Thầy Tây An.

Đình Thới Sơn (ảnh: Vĩnh Thông)

Điểm qua một số di tích tại Thới Sơn. Đình Thới Sơn là cơ sở được thành lập trễ nhứt. Một số ý kiến cho rằng “Nơi đây là Trại rẫy, Phật Thầy cho dựng đình thờ Thành hoàng” là không đúng, vì chỉ có trại ruộng chứ không có trại rẫy, và đình Thới Sơn cũng được lập sau khi Phật Thầy viên tịch. Khi vùng đất khai hoang đã được trù mật, ông Tăng Chủ và Đình Tây bắt đầu chuyển sang chú trọng việc chăm lo tu tập cho tín đồ. Ban đầu đình được xây cất bằng cây rừng, mái tranh, vách lá, nền đất. Sau bao nhiêu lần tín đồ trùng tu cũng chính là bấy nhiêu lần bị giặc đốt phá. Mãi đến những năm 1970 đình mới được trùng tu lại khang trang.
Kiến trúc của đình cũng theo kiểu các đình miếu miền Tây Nam với nóc cổ lầu, mái tam cấp lợp ngói, vách tường và nền xây cao ráo, cột đắp hình long vấn. Nội thất đình trang trí rất nhiều tranh tường đẹp mắt, các khánh thờ chạm trổ hoa văn công phu. Giữa thờ Thành hoàng bổn cảnh như những đình khác, phía sau thờ Đức Phật Thầy và Thập nhị Hiền thủ (mười hai cao đồ của Phật Thầy). Trước đình là cổng tam quan cổ kính, bên cạnh là di tích cổ thụ được rào lại cẩn thận tương truyền ngày xưa Đức Phật Thầy thường ngồi tịnh nơi gốc cây nầy.

Chùa Thới Sơn (ảnh: Vĩnh Thông)

Gần đó là chùa Thới Sơn, cũng là nơi được thành lập sớm. Trước kia được dùng làm chỗ tu hành, thờ phượng theo nghi thức đơn giản của Phật Thầy. Ngày nay, chùa được xây dựng lại với quy mô nằm giữa một khuôn viên rộng lớn, thoáng mát với nhiều cây xanh, hoa kiểng. Chùa mang kiến trúc hiện đại và sáng tạo, khá đẹp mắt. Mái ngói và các hàng cột được đắp nổi nhiều hình rồng, búp sen, chim thú, hoa lá… Cửa dạng vòm uyển chuyển, các liễn đối không phải vẽ hay khắc mà được ghép lại từ các mảnh sành rất điêu luyện.
Trong chùa có hai gian, chánh điện thờ Tam bảo, hậu điện thờ Phật Thầy Tây An. Xung quanh còn phối thờ Hộ pháp, Chư quan cựu thần, Năm non bảy núi, Thập nhị hiền thủ, Cửu huyền thất tổ, và nhiều bàn thờ khác… Đặc biệt, mặc dầu ít nhiều thay đổi so với buổi đầu, nhưng chùa vẫn giữ y truyền thống đạo với bức Trần điều. Hằng năm, cứ đến những dịp Tết, ngày rằm, các ngày lễ đạo thì tín đồ lại tề tựu về đây để cùng nhắc nhở nhau về công lao của các bậc tiền bối.

Chùa Phước Điền (ảnh: Vĩnh Thông)

Chùa Phước Điền là nơi Phật Thầy và các đệ tử dẫn dắt dân nghèo vượt qua những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ. Họ khai phá và lập những cơ sở tôn giáo đầu tiên gọi là “trại ruộng”. Ngoài mặt trại ruộng để che mắt sự dòm ngó và gây khó dễ của triều đình, nhưng thực tế đây là một cơ sở tôn giáo thuở sơ khai của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Nơi đây, sau khi tín đồ khai phá vùng đất hoang vu, họ bắt tay vào cày cấy, sản xuất, như quan niệm của Đức Phật Thầy từ buổi đầu lập đạo.
Theo nếp sống và sinh hoạt được định ra từ những ngày đầu, thì ban ngày tín đồ cùng nhau trồng trọt, cày cấy, đến tối sẽ lo tu tập: “Khát thời uống nước Tào Khê / Đói ăn ma phạn tối về canh tân”. Như vậy rõ ràng đây là một mô hình mới và độc đáo, vừa có thể tu hành nhưng cũng không vì lợi ích bản thân mà quên đi cộng đồng xã hội. Chủ trương đó của Phật Thầy dẫu đã qua gần hai trăm năm, trại ruộng xưa nay đã thành chùa chiềng, làng mạc, nhưng tư tưởng ngày ấy vẫn được tín đồ kế tục và phát huy.
Ngày nay khuôn viên chùa Phước Điền có diện tích rộng lớn, tuy nhiên quy mô chánh điện lại nhỏ. Chủ trương Phật Thầy là giản dị hóa cách thức hành đạo, không xây chùa am lớn vì Phật cốt ở tâm chứ không phải xây chùa cao, đắp tượng lớn. Theo một số tư liệu, chùa Phước Điền có hai cặp đối tương truyền của Phật Thầy, là “Nhứt trần bất nhiễm Bổ Đề địa / Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn” và “Phước bảo thiền quang thanh tịnh vô vi thường phổ chiếu / Điền kinh công đức viên dung bát nhã biến thông truyền”.
Tương truyền, trong thời gian khai khẩn Thới Sơn, Phật Thầy có nuôi đôi trâu rất khỏe mạnh được dân gian gọi là ông Sấm, ông Sét. Nhân dân quý trọng đôi trâu nầy như người hữu công với làng xóm vì đã cùng giúp đỡ bà con chuyên chở hàng hóa, nông cụ trong những ngày đầu khai phá. Chính vì thế khi đôi trâu qua đời, nhân dân trong vùng đã chôn cất chu đáo. Chỉ là những con vật nhưng nếu có công thì vẫn được đồng bào ta tôn kính như con người, thế cũng đủ biết người miền Tây trọng tình nghĩa đến thế nào.
Đã qua gần hai thế kỷ nhưng mô hình trại ruộng độc đáo vẫn đầy kỳ bí và hấp dẫn trong mắt các nhà nghiên cứu. Về phía những tín đồ, họ vẫn tiếp tục trùng tu cơ sở và không ngớt hương khói đối với bao công lao của người xưa. Bên cạnh những di tích đó còn có núi Két tên chữ là Anh Vũ Sơn cũng mang nhiều dấu ấn của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và là điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch gần xa. Dẫu là di tích của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ngày nay còn lại không nhiều, nhưng mỗi nơi, mỗi câu chuyện là những bài học lớn cho người đời sau.
Bài, ảnh: VĨNH THÔNG
(bài đã đăng báo Cần Thơ)

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận