Đính chính tên gọi Năng Gù - Vĩnh Thông

26/10/2012
Ngày nay, Năng Gù là một cái tên khá quen thuộc của người dân An Giang và cả vùng Tây Nam Bộ. Song nhiều người thắc mắc: bến phà đi từ huyện Châu Phú sang huyện Phú Tân có tên là bến phà Năng Gù, cách đó khoảng 7 km lại cũng nhà thờ Thiên Chúa giáo mang tên Năng Gù ở huyện Châu Thành, vậy Năng Gù chính xác là ở đâu?
Trước tiên, cần xác định rõ vị trí cụ thể của Năng Gù từng được ghi nhận trong nhiều tài liệu. Năng Gù là tên một vùng đất mà hiện nay thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Cụ thể hơn, đó là một cù lao nằm giữa ranh giới hai huyện Châu Phú và Châu Thành, ngày nay có tên gọi hành chánh là xã Bình Thủy, xưa kia mang tên là thôn Bình Lâm. Cù lao nầy chia sông Hậu thành hai nhánh, trong đó nhánh nhỏ cũng mang tên theo tên cù lao, gọi là xép Năng Gù (xép: sông nhỏ).
Cù lao Năng Gù được đề cập từ rất sớm trong các tác phẩm địa chí, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định biên soạn năm 1806 viết: “Giữa sông có cồn, gọi là cù lao Năng Cù, trên đó có dân cư, ở đây nước chia ra hai nhánh, hai bên sông đều có dân cư và ruộng cấy lúa, phía ngoài là rừng chằm, đến rạch Năng Cù, rạch ở phía bên phải, rộng 5 tầm, sâu 2 tầm, chảy đến cùng thì có dân cư” [Lê Quang Định 2005: 330].
Gia Định thành thông chí do Trịnh Hoài Đức biên soạn khoảng cuối đời Gia Long đề cập: “Ở phía trước hạ khẩu Vàm Nao thuộc Hậu giang dài 9 dặm, có thôn Bình Lâm ở đấy. Ở đây rừng tre um tùm, đầy dẫy ao cá, dân ở vùng thượng lưu Hậu giang nhờ khai thác tre và cá tôm làm nghề sinh nhai hàng ngày, ngoài ra còn trồng bông kéo sợi và lúa gạo” [Trịnh Hoài Đức 2004: 15].
Đến tác phẩm Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán biên soạn dưới triều Tự Đức, cũng cung cấp những thông tin tương đồng: “Ở trước cửa dưới vàm Thuận Châu của Hậu giang, dài 9 dặm, có thôn Bình Lâm, trên rừng nhiều tre, dưới sông lắm cá” [Quốc sử quán triều Nguyễn 2006: 215].
Tương tự, sau khi Nam Kỳ trở thành thuộc địa, Duy Minh Thị biên soạn Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí năm 1872 cho biết: “Cù lao Năng Cù (kêu trại Năng Gù) ở về phía trước vàm dưới vàm Giao (Nao) ở sông Sau, dài 9 dặm, cù lao quanh co, về hướng nam cù lao bằng phẳng cho nên ghe đi phần nhiều noi theo bờ hướng nam (tục danh xếp Năng Gù)” [Duy Minh Thị 1944: 87-88].
Những tác phẩm trên đều khẳng nhận Năng Gù là tên một cù lao trên sông Hậu. Địa danh nầy không rõ ra đời từ khi nào và nguồn gốc ở đâu, chỉ biết cách đây hàng trăm năm đã có cư dân sinh sống trên cù lao và truyền nhau tên gọi cho đến bây giờ. Hiện nay có nhiều lý giải khác nhau về địa danh nây, ý kiến đầu tiên theo các vị cao niên ở địa phương cho rằng Năng Gù bắt nguồn từ Long Cù nghĩa là con cù hóa rồng, sau nói trại ra thành Năng Gù. Cù là con vật cổ trong văn hóa dân gian, như loài cá sấu, nhưng không có thật, dân gian cho rằng vùng đất nào bỗng lở thành sông là do có con cù ẩn mình bên dưới và nó đang “dậy” để hóa rồng. Cách lý giải thứ hai cho rằng Năng Gù nói trại từ Snèn Kô trong tiếng Khmer, nghĩa là sừng bò. Bên cạnh đó, các bộ sách địa chí của triều Nguyễn viết “Năng Cù” bằng Hán tự với chữ “năng” trong khả năng và “cù” là con đường.
Chưa biết giả thuyết nào chính xác hơn, chỉ biết rằng tên gọi Năng Gù đã ra đời từ rất sớm và nơi đây cũng là một trong những vùng đất được khai phá đầu tiên ở An Giang. Năm 1783, một nhóm lưu dân có nguồn gốc miền Trung do ông Dương Văn Hóa dẫn đầu, sau một thời gian dừng chân nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, cuối cùng họ đã quyết định chọn cù lao nầy làm nơi lập nghiệp. Ông đặt tên cho thôn mới lập là Bình Lâm (sau nầy đổi thành Bình Thủy cho đến nay). Tuy nhiên, giai đoạn khai khẩn nầy cũng là lúc tranh chấp giữa chúa Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn ở Nam Bộ đang căng thẳng, nên mãi đến sau khi vua Gia Long lên ngôi và mở ra triều Nguyễn, thôn Bình Lâm mới chính thức được ghi nhận trong địa bạ.
Bên cạnh đó, ngoài cù lao mang tên Năng Gù thì trong dân gian còn tồn tại một miệt Năng Gù không rõ ràng, nhưng chắc hẳn là có phạm vi rộng hơn cù lao. Cụ thể, miệt Năng Gù được xem là bao gồm cả phần đất cù lao và một số vùng lân cận, có thể tạm ước tính từ giáp ranh rạch Cái Dầu (huyện Châu Phú) đến giáp ranh rạch Chắc Cà Đao (huyện Châu Thành). Chúng ta có thể xác minh điều nầy qua vài tư liệu:
- Đầu triều Nguyễn, sau khi thôn Bình Lâm được công nhận chính thức, quan Tổng trấn Vĩnh Thanh phong ông Dương Văn Hóa chức Trùm tri thâu Bình Lâm thôn. Song, khu vực ông quản lý không chỉ có cù lao Năng Gù mà bao gồm cả vùng “xép” từ Cái Dầu kéo dài xuống Chắc Cà Đao [Tư liệu điền dã 2012]. 
- Theo Sơn Nam [1959: 59] cho biết: “Năm 1845, vùng Năng Gù lại phồn thịnh nhờ sự khai thác của nhóm người Công giáo mới đến”. Chúng ta có thể hiểu “vùng Năng Gù” trong đoạn nầy không chỉ riêng cù lao Năng Gù mà cả vùng rộng lớn hơn, có thể bao gồm phần đất mà ngày nay thuộc xã Bình Mỹ (huyện Châu Phú) và xã An Hòa (huyện Châu Thành), vì ở cù lao Năng Gù tín đồ Công giáo không nhiều bằng nhưng ở những vùng lân cận vừa kể trên.
- Ấp Bình An nằm bên kia sông Năng Gù, nằm đối diện với phần đuôi của cù lao Năng Gù, dù không trên phần đất cù lao nhưng vẫn thuộc quyền cai quản của làng Bình Thủy. Ấp Bình An cũng là nơi có nhà thờ Năng Gù tọa lạc. Mãi đến năm 1979, ấp Bình An tách ra khỏi xã Bình Thủy, nhập với một phần của xã Bình Hòa (huyện Châu Thành), lập thành xã mới An Hòa và đặt xã nầy thuộc về huyện Châu Thành quản lý. Từ đây, địa phận xã Bình Thủy chỉ còn nằm trên cù lao Năng Gù.
Theo chúng tôi, sở dĩ có miệt Năng Gù vì ngày xưa những vùng đối diện với cù lao Năng Gù bên kia sông còn hoang vu, dân cư ít ỏi, chưa thành lập thôn ấp chính thức. Trong khi đó, cù lao Năng Gù là nơi được khai phá và thành lập thôn sớm, thế nên người đúng đầu thôn Bình Lâm là cụ Dương Văn Hóa được cho phép kiêm quản cả vùng đất rộng lớn nằm ngoài cù lao. Dân gian gọi vùng đất rộng lớn ấy một cách chung chung là miệt Năng Gù - lấy trung tâm để chỉ toàn thể - cũng không có gì quá ngạc nhiên. Sau nầy miệt Năng Gù mới tách ra thành các thôn khác.
Trở lại vấn đề về sự nhập nhằng giữa tên bến phà và tên nhà thờ dù cả hai nơi cách nhau khoảng 7 km và không nằm trên cù lao Năng Gù. Tên nhà thờ Năng Gù đồng thời là tên giáo xứ, mà giáo xứ Năng Gù ngày xưa bao gồm cả cù lao Năng Gù và vùng phụ cận. Đồng thời trước đây nhà thờ vốn nằm trên ấp Bình An thuộc xã Bình Thủy, chỉ mới tách ra thành xã An Hòa mấy mươi năm nay. Vì thế, mặc dù hiện nay nhà thờ không nằm trên cù lao nhưng vẫn mang tên Năng Gù và lấy tên Năng Gù làm tên giáo xứ, điều nầy cũng không có gì phải bàn cãi.
Nhưng còn phà Năng Gù thì sao? Vùng, miệt hay giáo xứ là không gian rộng, một địa danh trung tâm có thể được dùng để chỉ toàn vùng. Trong khi đó, phà là một địa điểm được xác định rõ ràng hơn, với điểm đi và điểm đến cụ thể. Hai bờ của phà Năng Gù là xã Bình Mỹ (Châu Phú) và xã Bình Thạnh Đông (Phú Tân), nhưng phà lại mang tên Năng Gù - một cù lao giữa sông có tên hành chánh là xã Bình Thủy, mà đường đi của phà nầy không hề ghé vào hoặc đi ngang qua địa phận của cù lao Năng Gù.
Từ thời Pháp, chánh quyền thuộc địa đã xây dựng bến phà nầy, gọi là bắc Năng Gù. Trong tiếng Pháp, từ “bac” có nghĩa là phà sang sông, người miền Tây đã tiếp biến từ nầy và đọc là bắc hay bến bắc. Trường hợp bắc Năng Gù, có thể hiểu là trước đó đã có đò chèo rồi sau đến đò máy và đã được gọi là Năng Gù, khi người Pháp mở rộng và nâng cấp lên thành bến phà lớn cho ô tô có thể qua lại thì vẫn giữ nguyên tên cũ. Ngày nay, chánh quyền hiện tại vẫn sử dụng Năng Gù làm tên bến phà nầy.
Một vị cao niên ở Bình Thủy, ông Huỳnh Ái Tông [2011: 8] viết: “Ở đầu làng có một ngôi chợ, nơi đó có một bến đò thường gọi là bến đò Năng Gù, về sau gần đó có một bến bắc (phà), những người phụ xế (lơ) xe đò, không rành về địa phương, thấy bến bắc gần bến đò Năng Gù, nên họ đặt tên là bắc Năng Gù, thật ra chiếc bắc nầy đưa người đi từ làng Bình Mỹ sang Hòa Hảo và ngược lại, không dính dáng chi đến cù lao Năng Gù cả. Đây là sự sai lầm mà chúng tôi muốn giải thích nguyên do vì sao có tên là bắc Năng Gù”.
Đến nay, tên gọi Năng Gù vẫn bị sử dụng không rõ ràng khiến nhiều người hiểu sai về địa phương, thậm chí nhiều người trẻ sinh ra và lớn lên trên cù lao Năng Gù - con cháu của những tiền nhân khai hoang lập ấp ngày xưa - cũng không biết Năng Gù tên cù lao quê mình, cứ ngỡ là tên một bến phà qua sông Hậu. Địa danh Năng Gù không chỉ mang đậm dấu ấn lịch sử - văn hóa của một xứ cù lao, mà còn là nỗi nhớ niềm thương của những người con quê nhà, họ luôn tự hào về tên đất, tên quê và về ông cha đã khai hoang dựng nên thôn xóm.

VĨNH THÔNG
(Tạp chí Xưa & nay, số 407, tháng 7/2012)
______________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.    Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Phan Đăng dịch, Nxb Thuận Hóa.
2.    Trịnh Hoài Đức (2004), Gia Định thành thông chí (Quyển 2: Sơn xuyên chí), Lý Việt Dũng dịch & Huỳnh Văn Tới hiệu đính, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Bản điện tử: www.namkyluctinh.com.
3.    Sơn Nam (1959), Tìm hiểu đất Hậu Giang, Nxb Phù sa.
4.    Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Phạm Trọng Điềm dịch & Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Thuận Hóa.
5.    Duy Minh Thị (1944), Nam Kỳ lục tỉnh địa dư chí, Thượng Tân Thị dịch, Đại Việt tạp chí.
6.    Huỳnh Ái Tông (2011), “Làng tôi”, trong Truyện của tôi, Hiên Phật học.

© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận