“Sao đổi ngôi” của Thu Nguyệt - một vài cảm nhận - Vĩnh Thông

20/06/2012
SAO ĐỔI NGÔI

Bất ngờ sao rụng vào không
Ta vo điều ước vào trong cái nhìn
Ta - phiền phức một hành tinh
Dại khờ ký thác nỗi mình vào sao !
Buông mình, sao rụng về đâu ?
Ta tìm mãi chẳng nơi nào bình yên

Ta băng qua sự buồn phiền
Hiểu điều đã mất tự nhiên mãi còn...
(Thu Nguyệt, tập thơ “Hoa cỏ bên đường” NXB Trẻ 2002) 

Thu Nguyệt có tài về lục bát, phải công nhận như thế. Mỗi bài là những tâm tư - không trưng ra cho người ta thấy, không trải ra một cách khái quát. Lục bát của Thu Nguyệt nhẹ nhàng, tự nhiên như được lập trình sẵn, chỉ việc viết ra. Thế nên độc giả ít khi nhận ra kỹ thuật trong ngòi bút ấy, chẳng có sự sắp xếp nào mà tự thân nó ngay từ khi ra đời là đã thế, tự thân người viết phải trải lòng như thế. Tác giả viết tự nhiên, độc giả cũng tiếp nhận một cách tự nhiên.
Với “Sao đổi ngôi”, đây là một bài lục bát ngắn, tám câu hai khổ có sự hoán đổi chủ thể liên hoàn (sao - ta - sao - ta) kết hợp cấu trúc lục bát quen thuộc tạo cho thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng. Mở đầu, mượn hình ảnh sao băng không có gì là lạ lẫm “Bất ngờ sao rụng vào không”. Sao băng là chuyện bình thường, theo tuần hoàn của tự nhiên, cũng giống như sự thay đổi trong cuộc sống con người. Người ta vẫn thường cầu nguyện khi nhìn thấy sao băng để tìm may mắn, còn đối với nhân vật “ta” thì chỉ xin được “vo điều ước vào trong cái nhìn”. Điều ước tưởng chừng lớn lao, kỳ vĩ nhưng thực tế có thể… vo tròn lại. Gửi gắm bằng cái nhìn chứ không phải bằng lời cầu nguyện, nhìn sao rơi xuống nhanh chóng, vậy là đủ. Vậy là đã ước xong, điều ước nằm trong cái nhìn xa xăm mơ hồ ấy. Điều ước ấy, đơn giản lắm và cũng mong manh lắm.
Ngôi sao kia có nhận được điều ước ấy không, cũng không cần thiết. “Ta” lúc này (hay đã tự bao giờ) như một hành tinh phiền phức, chẳng biết giấu nỗi niềm của mình vào đâu nên đành “dại khờ” để gửi vào ánh sao băng ấy. Thì đành vậy, con người gửi lời nguyện cho sao còn hành tinh phiền phức này thì biết gửi gắm vào đâu ? Nhân vật “ta” có gửi cho cõi người được không khi cõi người quá mông lung biết có ai đáng tin cậy để gửi gắm ? Thôi, thì đành gửi vào ánh sao kia vậy !
Đoạn đầu như là kể chuyện, như là chia sẻ, về ngôi sao và cả về mình. Để tiếp đến đoạn sau, câu hỏi lớn được đặt ra: “Buông mình, sao rụng về đâu?” Có thể là không có lời đáp. Ngay cả người đọc khi tiếp nhận câu nghi vấn này cũng sẽ tự trăn trở: rụng về đâu? Nhưng rồi cũng không tìm ra câu trả lời. Chỉ có tác giả - từ câu hỏi ấy đã trăn trở: “Ta tìm mãi chẳng nơi nào bình yên”. Sao chưa biết khi buông mình xuống sẽ về đâu, và “ta” lúc này cũng thế. Nhân vật trữ tình đứng trong tâm thế đau đáu hoang mang, khó xử, thậm chí có thể nói là đang “khổ”. Tìm ở đâu, đến bao giờ, và thế nào là bình yên đúng nghĩa ? Thật khó, nên tìm mãi chẳng xong ! Những thi ảnh lần lượt được ghi lại như vụt hiện ra, như một sự bất chợt trong tâm khảm nhân vật “ta” hay người viết.
Sao băng đến rồi đi, chỉ có buồn phiền vẫn còn ở lại. Tác giả tự ví mình như sao, sao thì băng qua đời còn người thì băng qua nỗi buồn ấy. Ta chỉ đành làm thế thôi, chỉ có thế mới đối diện được nỗi buồn triền miên của kiếp nhân sinh. Và khi ấy, vô tình thay, may mắn thay, ta lại được “Hiểu điều đã mất tự nhiên mãi còn” như một sự tiếp thu, nhìn nhận những điều vốn hằng hữu mà ta đã mãi loay hoay chưa thấy. Sao băng qua là mất, nhưng ánh sáng kia vẫn sáng mãi trong lòng người. Kiếp người mấy mươi năm cũng hết, nhưng có những thứ không thể phai mờ được. Từ hình ảnh ngôi sao băng và thực tại đời người mà người viết đã đẩy ý tưởng lên đến độc đáo, phảng phất triết lý Phật giáo. Nhà thơ đã tìm được (hay là nhận ra) chính mình trong cái đống ngổn ngang của cuộc sống, ta là sao mà sao cũng là ta, và đều là những cá thể tự do trong hành trình đằng đẳng chưa biết điểm dừng. Cuộc đời thay đổi, nhưng không sao cả, chỉ cần “băng qua”, chỉ cần “hiểu điều đã mất tự nhiên mãi còn” là đủ.
Mượn “sao” để nói về “ta”, và rồi từ “ta” lại suy nghiệm đến “sao”, Thu Nguyệt đã khéo léo sắp đặt những hình ảnh, chi tiết, những động từ mạnh để tạo nên sự hấp dẫn trong cách diễn đạt. Ngay cả việc chuyển đoạn giữa đoạn đầu và đoạn sau cũng là cả một sự tinh tế, một đoạn mang tính chất ghi chuyện, bất chợt vụt sang một đoạn trăn trở để rồi nghiệm ra. Bài thơ hiện lên một nỗi buồn khó diễn tả cho xuôi, một suy tư khó trả lời cho tròn. Chính vì thế nó đã tạo ra một “khoảng trống” mơ màng và cứ ngân vang mãi trong lòng người đọc.

VĨNH THÔNG


© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 2 ]


MAI CHIÊU SƯƠNG 10:47, 20/06/2012

Hôm nào qua nhà chú nầy nhé. Bài nầy chú đã đọc bên blog kia của cháu rồi

Vĩnh Thông 11:00, 24/06/2012

Dạ, cám ơn chú, sẽ qua thăm nhà chú mà, chúc chú vui, viết đều tay nhé !

Gửi bình luận