Trần Thế Vinh “nghiệm” lại đời thơ - Vĩnh Thông

09/07/2011
(Đọc tập thơ “Nghiệm & Khổ cuối một vần thơ” Trần Thế Vinh, NXB Phương Đông 2010)
Có lẽ Trần Thế Vinh là một cái tên không xa lạ gì với những người yêu thơ An Giang và Đồng bằng Sông Cửu Long. Tôi chỉ biết và đọc Trần Thế Vinh trong thời gian gần đây, tuy nhiên đã  bị thơ anh làm rung động. Trần Thế Vinh cầm bút từ khoảng những năm 1980, đến nay sự nghiệp thơ của anh khá đồ sộ.
Đầu năm 2010, Trần Thế Vinh vừa cho ra đời thi phẩm thứ 6 của mình, mang tên “Nghiệm & Khổ cuối một vần thơ” do NXB Phương Đông liên kết với Hội LH VHNT An Giang xuất bản
Tập thơ được tác giả chia làm hai phần: “Nghiệm” và “Và khổ chót một vần thơ”. Ở phần đầu, tác giả tập trung vào những sự chiêm nghiệm rất đời thường, người đọc sẽ có cơ hội bắt gặp cái “nghiệm” của tác giả về đời người, cuộc sống, tình yêu, những người nông dân, cái tôi bản ngã, sự bất lực của con người, những và mâu thuẫn đời thường… Đó cũng là mảng chủ đạo, đậm chất triết lý mà hài hòa giữa tình yêu con người và cuộc sống xung quanh. Ở phần sau, tác giả chủ yếu viết về những hình ảnh của quê hương, đâu đó chúng ta sẽ thoáng bắt gặp dòng Cửu Long và dãy Thất Sơn hòa chung với nhau trong thơ Trần Thế Vinh.
Theo ý kiến chủ quan của chúng tôi, “Nghiệm & Khổ cuối một vần thơ” có lẽ là sự đúc kết sau một chặng đường khá dài - hơn 30 năm cầm bút của tác giả, như là một đợt “nghỉ giải lao” giữa chặng đường, và đợt “nghỉ giải lao” này theo tác giả là để “Chiêm nghiệm mình và lãng đãng với thơ ca”.
Chất dân dã là yếu tố đầu tiên phải kể đến khi nói về thơ Trần Thế Vinh. Thơ anh chủ yếu viết theo lối truyền thống, thỉnh thoảng chúng ta cũng bắt gặp sự phá cách, khoáng đãng tự do đến hào phóng, tuy nhiên vẫn giữ một lề lối, một chuẩn mực rất riêng, rất “chân quê” của người đồng bằng mà không xô bồ xô bộn, không chạy theo thời thượng quá đà. Chất dân dã luôn được lồng cài vào từng tứ thơ, xuyên suốt chiều dài và chiều sâu của thơ Trần Thế Vinh, tuy không “mới mẻ”, không “hậu hiện đại” nhưng cũng không sáo rỗng. Cũng là “quê” nhưng cái chất “quê” của anh… rất lạ !
Nếu như mở đầu tập thơ, Trần Thế Vinh đã viết:
Khoác áo nhà thơ
Thi nhân là hành giả bày mâm khẩu nghiệp
Nhóm lên ngọn lửa cảm xúc
Như ánh lân tinh
Tan vào mây gió xanh tươi, vàng đục…
(Nghiệm)
Thì 37 bài thơ trong tập thơ chính là 37 ánh lân tinh, nhiều màu sắc mà vẫn mang cái chung nhất quy về chữ “nghiệm”, cứ tưởng chừng nó sẽ “Tan vào mây gió xanh tươi, vàng đục… nhưng không, nó vẫn “Âm ĩ cháy / Giữa lòng minh tâm vô lượng / Vạn biến vào cõi niết bàn còn lắm bi, ai…” (Nghiệm) như chính tác giả đã nhìn nhận về đời thơ hay chính là đời mình.
Với tình yêu, tác giả “Nghiệm & Khổ cuối một vần thơ” ghi lại cảm xúc của người đợi chờ, thất vọng: “Anh quen nếm đắng cay / Không giữ kịp một hột để muối lại tâm hồn / Nêm vào bài thơ tình sau cuối” (Trong một phút và bài thơ sáu khổ). Hay đôi khi là sự tinh nghịch đáng yêu: “Dọc đường / Ý tại tình cờ / Phải chi con gái bây giờ cài trâm / Chiều buồn ngồi nhớ xa xăm / Ta làm thằng ngốc, chuốt trâm tặng nàng!” (Dọc đường thơ).
Một lần nhìn lại thấy mình thật sự đã già trước trò đùa của con tim, góc nhìn của Trần Thế Vinh đi từ cái xa, cái rộng lớn đến cái gần gũi bé nhỏ bên cạnh con người: “Ngọn gió cũ, qua đêm / Luồng vào khe cửa, thốc rối tàn tro thời gian / Ta nghe buốt tim / Từ sợi tóc mới mọc / Bạc trắng” (Bài thơ tình số 15). Hoặc là: “Khắc vào cây cổ thụ - Ta / Hình như dấu chấm, ngã qua xế chiều!” (Về ở với rừng).
Lắm khi cũng là hi vọng, dù chỉ mong manh: “Xuân về. Xuân về… / Ta cám ơn em / Đã mấy mươi năm tiệc chưa tàn cuộc / Ly rượu tình mãi mãi còn xuân” (Xuân tái sinh). Cuộc vui nào rồi cũng phải tàn, nhưng đới với Trần Thế Vinh cuộc vui vẫn còn đọng lại nơi sâu thẳm tâm hồn, khi con người chưa tắt hi vọng thì “ly rượu tình mãi mãi còn xuân”.
Với quê nhà, Trần Thế Vinh đã hết sức sâu sắc khi viết về những người nông dân chân lắm tay bùn. Anh không nói đến những khổ cực, vất vả của họ mà chú trọng khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và lòng phóng khoáng của người dân miền Nam. Ta bắt gặp hình ảnh người nông dân ra đồng bị cứa đứt một móng chân, nhưng không sao, bởi vì: “Đâu phải mỗi bình minh không có nỗi buồn số phận Móng chân tưa mép hôm qua còn chín dấu Mỗi mùa…”. Đối với họ, những người đàn ông trụ cột gia đình, thì làm lụng, cấy cày là chuyện quan trọng, còn mất một ngón chân, ôi, chẳng là gì cả: Nói chuyện này, ông bảo rằng xưa… / Khi đất ngày nay đã hai, ba mùa trĩu hạt / Việc cấy cày cũng khác / Kể làm gì / Chuyện mất mát một ngón chân!…” (Vẽ một bàn chân)
Vùng đất Bảy Núi - quê hương tác giả có lẽ được anh dành nhiều cảm xúc nhất, mỗi ngọn núi là mỗi vùng đất hứa, mỗi khe đá là mỗi dấu quê, núi và anh hội ngộ nhau như duyên phận, nên khi viết về Bảy Núi anh đã cảm nhận:
Đá thở 
Từ nhịp tim lòng 
Ta chim về núi ngó trông lại mình 
Bìm Bịp gọi tiếng thất tình 
Gió trời trở ngọn mưa in. Trái mùa…
(Thất Sơn)
Hình ảnh đồi Tà Pạ ngày Thanh minh cũng đi vào thơ Trần Thế Vinh, để cuối cùng vẫn là một sự chiêm nghiệm hết sức độc đáo mà gần gũi, cứ ngỡ đó chỉ là chép người, chép việc nhưng thực tế có sự nhìn nhận bằng con mắt trải đời, thậm chí “xem thường” đời, lối suy tư như “đùa cợt” nhưng khá “sâu”: “Tà Pạ thanh minh. Rực màu. / Phố vui - Như thể chết sao mà buồn… / Rượu thịt - Nhang khói âm dương / Cùng say một bữa thế thường rồi thôi!” (Một ngày trên núi cõi âm).
Đặc biệt, núi Dài - nơi Trần Thế Vinh sinh ra và lớn lên, gia đình anh như đã đồng hành cùng ngọn núi: “Ba mươi năm trôi qua / Ba mươi ngọt đắng riêng mình / Núi và tôi bấy nhiêu lần chia tay, gặp gỡ” để rồi những vùng đất ấy được tác giả cất giữ trong tâm hồn: “Mỗi lần đi / Và lần về. Tôi như người mang nợ / Trước cây cỏ, núi rừng, hang động, suối khe...” (Núi Dài và tôi)
Từ hình ảnh mùa lũ, Trần Thế Vinh đã hướng sự suy tưởng của mình đến thân phận con người, trong bài “Cánh đồng trắng” tác giả đã sự dụng thành công những động từ nhẹ, gần gũi, chỉ cuộc sống con người trong mùa lũ, để nêu bật tính không chịu khuất của vạn vật trước trò đùa của tạo hóa, để gửi sự tin tưởng chắc nịch của mình vào vùng đất: “Cánh cò mò đêm về đoàn viên sự sống”, “Ngọn bông súng trồi đầu thả nước”, “Thả những miếng mồi mưu sinh”… Hình ảnh người con gái đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với cuộc đời lắm những truân chuyên, làm người đọc ngậm ngùi:
Lao xao đồng trắng bóng thuyền
Em lo kê lại mái hiên đời mình
Lụt tràn đỏ vạt bình minh
Chia hai dòng nước
Theo tình có, không
(Mùa lụt lao xao)
Cuộc sống ở xứ đồng bưng đi ăn vào tiềm thức của người con xứ núi, khiến anh đã đôi lần xao xuyến. Bằng những hình ảnh rất đẹp và nhẹ nhàng, không biết là cố tình hay vô ý của sự sắp đặt ngôn từ mà tác giả đã hết sức tinh tế khi viết những câu:
Ở Thanh Điền viên, chiều vơi vơi nắng ngày
Bảng lảng khói - từ bếp lửa bập bùng chái bếp
Hẹn mai hay mốt... khi bão lòng thấm mệt
Gọi cá điêu hồng lên nhả bóng trăng khuya!
(Thơ viết ở Thanh Điền viên)
Đến những vùng đất xa lạ nhưng dào dạt nghĩa tình, đâu đó xúc cảm lại trào lên. Mỗi cuộc tương ngộ là một lần thắp lửa ủ ấm lại tâm hồn, để rồi sau đó lại phải chia xa. Hợp tan vốn là chuyện tất yếu, biết vậy nhưng tác giả vẫn cảm thấy nghẹn lòng: “Thôi về nhé - Hỡi chiều qua ta đến / Sẽ dò tìm theo dấu cũ ta quen / Sẽ hẹn, như lần đầu không hẹn / Miệt đồng bưng ta nén giọt thơ buồn” (Chiều ở Si Ma Cai). Tuy vậy, dù có đi đâu, tác giả vẫn luôn đau đáu về quê nhà, nơi có những cánh đồng hòa cùng ngọn khói chiều bay dài theo năm tháng: “Đường trơn thác đổ, mây giăng giăng / Tây Bắc. Giang hồ mới nửa đêm trăng / Chưa hết canh hai nhớ ơi là nhớ / Dạt khói đồng bằng, rơm rạ mùa riêng...” (Tản mạn dọc đường Tây Bắc)
Kết thúc tập thơ, vẫn là sự chiêm nghiệm, và lần này là tình yêu. Có lắm lúc ta cũng không hiểu nỗi, không cưỡng lại được những bất cập trong cõi mình, Trần Thế Vinh cũng thế, đã thấy trăng, đã đuổi theo trăng, đã đùa với trăng, nhưng vẫn không chạm đến được.
Em
Quá khứ đi về, như một dấu chân riêng
Lần theo đó
Giữa canh mưa, trú mình làm nơi chốn
Có một lần say
Ta ngửa nghiêng, lẫn lộn
Trăng hay em, thao thức suốt đêm dài...
(Theo trăng)
Khép lại tập thơ, Trần Thế Vinh đã dẫn người đọc đến những bài thơ tưởng như chẳng có gì nhưng lại đấy triết lý, mang hơi hướm tình yêu, tình người đằm thắm. Anh khá thành công ở lục bát, sự ngắt nhịp khéo léo đã tạo nhạc tính cho mỗi bài lục bát của mình. Bút pháp hoán dụ và hàm ngôn được tác giả sự dụng khá vững vàng tạo sự bất ngờ cho người đọc. Có thể tạm nhận định như đã nói ở phần đầu, “Nghiệm & Khổ cuối một vần thơ” như là một đợt “nghỉ giải lao” để tác giả tự “nghiệm” lại mình. Qua tập thơ ta có thể thấy cái “nghiệm” của tác giả sâu rộng hơn, triết lý lồng cài vào nhau hơn, và chắc hẳn cái “nghiệm” đó cũng là cái “nghiệm” chung khiến nhiều người đọc suy gẫm.

VĨNH THÔNG (An Giang)





© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận