Tìm hiểu nguồn gốc danh xưng Bảy Núi - Vĩnh Thông

10/06/2011
1. Đặt vấn đề
Ngày nay, khái niệm Thất Sơn - Bảy Núi ở tỉnh An Giang được nhiều người biết đến, thậm chí người dân địa phương cũng truyền tai nhau rằng: tỉnh An Giang có bảy núi. Nhưng thực tế lại không phải vậy, số núi ở An Giang cao hơn con số bảy rất nhiều. Cụ thể, theo thống kê của Địa chí An Giang thì đến nay tỉnh có 37 ngọn núi đã có tên. Vậy tại sao người dân cho rằng chỉ có bảy núi? Đâu là nguồn gốc của khái niệm Thất Sơn - Bảy Núi nầy?
Trước tiên, chúng ta thường được nghe kể bảy núi gồm có núi Két (Anh Vũ sơn), núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ sơn), núi Tô (Phụng Hoàng sơn), núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), núi Dài (Ngọa Long sơn), núi Tượng (Liên Hoa sơn) và núi Nước (Thủy Đài sơn). Nhưng thực sự bảy ngọn núi trên chỉ là “một phần” trong khái niệm bảy núi. Để giải thích về điều nầy, chúng ta thử tìm hiểu qua những nguồn chính sử và truyền thuyết.
2. Bảy Núi trong thư tịch triều Nguyễn
Như đã nói ở trên, khái niệm nầy chỉ là bảy trong số 37 nọn núi ở An Giang, chưa nói đến bảy núi là những núi nào, nhưng trước tiên chúng ta thử tìm hiểu xuất xứ của nó.
Xa xưa nhứt, có lẽ là Gia Định Thành thông chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức viết khoảng những năm 1820, khi đó đơn vị trấn chưa đổi thành tỉnh, An Giang bấy giờ còn gọi là trấn Vĩnh Thanh. Trịnh Hoài Đức kể tên ở trấn Vĩnh Thanh có 19 ngọn núi gồm Thoại Sơn, Bảo Sơn, Ba Thê, Tà Chiếu, Trà Nghinh, Tượng, Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp, Chút, Tà Biệt, Ba Xùi, Ất Giùm, Nam Vi, Đài Tốn, Chơn Giùm, Sâm Đăng, Đại Bà Đê, Tiểu Bà Đê. Thống kê được 19 núi so với tổng số 37 núi của ngày nay là một thành tựu đáng nể và có vai trò khá quan trọng trong nghiên cứu bấy giờ. Tuy nhiên, vẫn chưa thấy khái niệm Thất Sơn trong tài liệu nầy.
Ngót trăm năm sau, trong Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) đời Tự Đức, kể ra được thêm một số núi mới mà trước kia chưa thống kê hết, tất cả được 23 núi. Trong ĐNNTC, tên gọi một số núi được “dân gian hóa” hơn và khái niệm Thất Sơn cũng bắt đầu xuất hiện từ đây. ĐNNTC kể gồm: Thoại Sơn, Ba Thê, Trà Chiếu, Trà Nghinh, Tượng, Tô, Cấm, Tụy, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt, Nhân Hòa, Đài Tốn, Thị Vi, Ba Xôi, Ca Âm, Nam Sư, Khê Lạp, Ngất Sum, Chân Sum, Thâm Đăng, Đại Ba Đê, Tiểu Ba Đê.
Giữa hai bản ta có thể rút ra vài ý:
- Tên gọi các núi có khác nhau đôi chút: Tà Chiếu với Trà Chiếu, Chút với Tụy, Ba Xùi với Ba Xồi, Ất Giùm với Ngất Sum, Sâm Đăng với Thâm Đăng...
- Thời Gia Long chưa có tên núi Cấm, đến thời Tự Đức tên gọi nầy mới xuất hiện. Có người cho rằng núi Đài Tốn là núi Cấm hoặc núi Tô, cũng có người nói núi Cấm là Ba Xùi hoặc Đài Tốn. Tuy nhiên, trong ĐNNTC lại vừa kể tên cả núi Cấm, núi Tô, lẫn Ba Xùi, Đài Tốn.
- Địa hình núi khá phức tạp, gồm nhiều núi liên kết thành dãy, nên việc thống kê có thể không đồng nhứt: tính là một núi hay nhiều núi. Núi Dài Năm Giếng, núi Trà Sư và núi Két trước đây vốn là một núi, sau nầy Pháp mở hai đường (nay là Quốc lộ 91 và Tỉnh hộ 948) mới tách ra thành ba núi. Lại thêm khó khăn trong phương pháp đo đạc, ghi chú vị trí.
- So với ngày nay, có những tên núi vẫn còn giữ nguyên như xưa: Thoại Sơn, Ba Thê, Cấm, Tô, Tà Biệt... Có những tên biến dị chút ít: Nam Vi nay là Nam Quy, Ba Xùi là Ba Xoài... Nhiều tên không còn nữa, phần bị dân gian hóa, phần bị mất hoàn toàn như: Trà Chiếu, Trà Nghinh, Ca Âm, Khê Lạp, Đài Tốn, Nhân Hòa, Thị Vi… Có những núi ngày nay nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam: Ngất Sum, Chân Sum, Tiểu Ba Đê, Đại Ba Đê, Thâm Đăng (sau Hiệp định phân định biên giới Nam kỳ - Cao Miên ngày 15/7/1873, do Thống đốc Nam kỳ Marie Jules Dupré ký kết với Quốc vương Cambodia Norodom I).
Trong Thất Sơn mầu nhiệm, Nguyễn Văn Hầu và Dật Sĩ [1955] thuật lại giải thích của Hồ Biểu Chánh rằng: “Đó có lẽ là hồi mới khai mở tỉnh An Giang, quan Tổng Đốc viết sách địa dư dâng lên triều đình đã do theo thổ âm hoặc hình thể hay phương hướng mà đặt tên cho các ngọn núi trên đây. Mặt khác, dân chúng ở vùng sơn cước này, vì không biết được sách địa dư nói trên, hoặc vì trọng phong tục hơn sử sách nên gọi là núi Trà Sư, núi Két, núi Dài, núi Tượng, núi Bà Đội Om, núi Ông Tô; còn mấy hòn núi cao nằm khoảng giữa (Ba Xoài, Ngất Sung, Nam Vi, Đài Tốn) thì họ kêu chung là vùng núi Cấm”.
Trong số 23 núi được kể trong ĐNNTC, có 7 ngọn núi được đề dòng chữ “núi nầy là một trong số bảy núi” gồm: núi Tượng, Tô, Cấm, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt, Nhân Hòa. Nhưng ĐNNTC chỉ ghi như thế, ngoài ra không giải thích là bảy núi gì, bảy núi cao nhứt, bảy núi đẹp nhứt, hay bảy núi thế nào mà được xếp đặt riêng?
Nếu đọc kỹ những gì trong ĐNNTC ghi chép thì bảy ngọn núi được sách ghi đa phần là núi cao. Ta thấy: núi Cấm được ghi chép là thế núi cao ngất, Nam Vi cao hơn 30 trượng, Tà Biệt cao 20 trượng… như vậy có thể phỏng đoán bảy núi mà ĐNNTC đề cập là những ngọn núi cao trong tỉnh An Giang. Tuy nghiên cũng có một nghịch lý: tại sao núi Tượng chỉ có 8 trượng lại được liệt vào bảy núi, trong khi các núi Đài Tốn (50 trượng), Ba Xùi (40 trượng), Ất Sum (40 trượng) lại không được kể vào, ngay cả các núi Trà Chiếu, Trà Nghinh, Sâm Đăng, Ca Âm, Tà Biệt cũng vẫn cao hơn núi Tượng.
Vậy chưa có thể tạm đoán bảy núi trong ĐNTTC nhắc là những ngọn núi cao. Theo Sơn Nam [1988] cho rằng đó là bảy linh huyệt.



3. Bảy Núi trong tâm thức cộng đồng
Nói đến những cái tên lạ trong GĐTTC và ĐNNTC chắc hẳn người dân ít ai biết chính xác, nhưng nếu bảo họ kể tên bảy núi thì chắc chắc họ sẽ kể được, nhưng những núi mà họ kể lại không giống như ĐNNTC, vậy “bảy núi dân gian” bắt nguồn từ đâu? Như đã nói, bảy ngọn núi mà người viết vừa kể ra ở phần đầu (bao gồm núi Két, núi Dài Năm Giếng, núi Tô, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Nước) chỉ là “một phần” trong khái niệm Bảy Núi. Vậy “một phần” ấy là thế nào?
Có lẽ, khái niệm “bảy núi dân gian” ra đời sớm nhứt là năm 1849, và không xuất phát từ một văn liệu lịch sử nào mà bắt nguồn từ truyền khẩu của một tôn giáo, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên). Khái niệm bảy núi của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ra đời trước bảy núi trong ĐNNTC, bởi vì ĐNNTC soạn trong khoảng năm 1865 đến năm 1882.
Sau khi lập đạo, vị tu sĩ họ Đoàn thuyết giảng về tận thế và hội Long Hoa. Theo đó, khi hết đời Hạ Nguơn thì tận thế sẽ đến, vùng Thất Sơn sẽ là nơi mở hội Long Hoa để lập đời mới Thượng Nguơn. Bảy ngọn núi được xem là linh thiêng bao gồm: núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ sơn, còn gọi núi Dài Nhỏ), núi Tô (Phụng Hoàng sơn), núi Dài (Ngọa Long sơn, còn gọi núi Dài Lớn hay núi Dài Văn Liên), núi Tượng (Liên Hoa sơn), núi Két (Anh Vũ sơn), núi Nước (Thủy Đài sơn). Một số tài liệu khác cũng nêu bảy ngọn núi vừa kể trên, nhưng tên chữ có phần khác biệt đôi chút, như: núi Két là Ô Thước sơn, núi Cấm là Bạch Hổ sơn, núi Tượng là Kỳ Lân sơn và núi nước là Bích Thủy sơn.
Tuy vậy, thánh địa Thất Sơn không hề là mê tín. Thực ra, thuyết tận thế và hội Long Hoa của Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ là tiền đề để trở thành động lực thực tế chấn hưng Phật giáo, đồng thời là sự sáng tạo của thầy Đoàn Minh Huyên. Ông rao giảng mở hội Long Hoa tại Thất Sơn để gom tín đồ về vùng xa xôi hẻo lánh, vừa giúp họ có nơi tu tập yên tịnh nhằm xây dựng đời sống an lạc, vừa để họ khai phá đất hoang để canh tác - một kiểu dinh điền của thời đại mới, hết sức tinh tế và khoa học. Tận thế theo Sơn Nam [2008] là “với niềm lạc quan để chờ đợi, người dân hăng hái lo việc ruộng nương, đoàn kết để xây dựng xóm làng”.
Mong ước của thầy Đoàn Minh Huyên đã trở thành sự thật, bảy núi không còn là vùng hoang vu nữa, rừng hoang đã trở thành ruộng lúa, nhà cửa mọc lên san sát, đời sống cư dân dần sung túc, ấm no. Tuy vậy, khái niệm Thất Sơn thời xa xưa vẫn đi vào tâm thức cộng đồng như là sự trân trọng dấu ích của tiền nhân.
Qua những gì đã phân tích ở trên, có thể nhận định rằng: có đến hai khái niệm Bảy Núi cùng song song tồn tại: Bảy Núi theo chính sử và Bảy Núi theo dân gian. Tuy tỉnh An Giang đã xác định có cả thảy 37 ngọn núi đã có tên, nhưng con số bảy vẫn không hề thay đổi, Thất Sơn từ lâu đã trở thành niềm tự hào cho dân An Giang:
Trước ba sông thêm rạng chí tang bồng
Sau bảy núi chẳng nao lòng anh kiệt
4. Bảy Núi ngày nay
Ngày nay, ở vùng Bảy Núi vẫn có nhiều điểm tích cực lẫn tiêu cực. Ở bài viết nầy cốt chỉ trình bày về danh xưng Bảy Núi, nên những thực trạng ở đây chỉ xin phép nêu ngắn gọn.
Bảy Núi thực sự “trở mình”, những ngôi nhà kiên cố mọc lên nhanh chóng, nhà tre lá tạm bợ, nhà hẩm hiu bên sườn núi dần không còn. Những còn đường đất sìn lầy lòng vòng quanh vùng sơn cước dần được nhựa hóa thẳng tắp, đường bộ lên núi cũng được trải nhựa hoặc làm các nấc thang bằng ximăng, núi Cấm, núi Tô trở thành khu du lịch… 
Tuy nhiên, một số ngọn núi có tiềm năng vẫn chưa được đầu tư đúng mức. Núi Trà Sư, núi Bà Đội Om có thể kết hợp du lịch với văn hóa tâm linh, núi Dài Năm Giếng có cảnh đẹp và khí hậu mát mẻ… vẫn chưa phát triển về du lịch. Núi Tô, núi Két đã mở thành khu du lịch nhưng chưa khai thác hết tiềm năng, đầu tư còn nhiều vấn đề bất cập. Núi Cấm là khu du lịch nổi tiếng, nhưng phát triển du lịch chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực lòng chảo hồ Thủy Liêm, một số nơi có nhiều tiềm năng như vồ Bồ Hong, vồ Thiên Tuế, điện Cây Quế… chưa được đầu tư hoàn thiện, đường xá trắc trở, gây khó khăn cho khách du lịch đến tham quan.
Đáng buồn nhứt là nạn khai thác đá và phá rừng. Có dịp vào Tri Tôn nhìn đồi Tà Pạ xác xơ, một vạt núi bị khoét sâu mà thấy mủi lòng. Một vài ngọn núi khác cũng thảm thương không kém. Núi bị khai thác đá, mất rừng, dẫn đến suy thoái môi trường. Bảy Núi muôn đời vẫn là Bảy Núi, vẫn sống mãi trong lòng dân tộc và trở nên quen thuộc với bao người, nhưng liệu Bảy Núi ngày nay có còn là vùng đất “thiêng” nữa không? Mặc dù biết rằng đó chỉ là văn hóa tâm linh tín ngưỡng của dân gian, nhưng nghĩ vẫn thấy buồn!

VĨNH THÔNG 
* Bài đăng tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (Viện Nghiên cứu tôn giáo),
số 11 (113), tháng 12/2012.
_______________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trịnh Hoài Đức (2004), Gia Đinh thành thông chí (tái bản), Lý Việt Dũng dịch, Nxb Đồng Nai.
2. Nguyễn Văn Hầu & Dật Sĩ (1955), Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Liên Chính.
3. Sơn Nam (1988),  Lịch sử An Giang, Nxb Tổng hợp An Giang.
4. Sơn Nam (2008),  Đi và ghi nhớ, Nxb Văn hóa Sài Gòn.
5. Nhiều tác giả (2013), Địa chí An Giang (tái bản), Sở TTTT An Giang.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí (tái bản), Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa.


© Tác giả giữ bản quyền, vui lòng ghi rõ nguồn khi sử dụng

Tất cả bình luận [ 0 ]


Gửi bình luận